Chương 1: Lúa lép
Lại là căn phòng ấy.
Tối và lạnh. Nền đá dưới lưng lạnh như nước giếng giữa mùa đông, ngấm qua lớp áo mỏng, ngấm vào tận xương. Trong bóng tối có mùi thuốc, đắng và hăng, đặc đến mức hít vào là cổ họng rát lên. Đâu đó có tiếng trẻ con khóc. Không phải một đứa, mà nhiều đứa. Tiếng khóc lúc gần lúc xa, lúc to lúc nhỏ, rồi tắt dần từng tiếng một, như có ai đi dọc căn phòng thổi tắt từng ngọn đèn.
Nó muốn khóc theo, nhưng cổ họng không bật ra được tiếng nào.
Rồi có một bàn tay đặt lên gáy nó. Bàn tay ấy còn lạnh hơn cả đá.
Nguyên choàng dậy.
Trong nhà vẫn tối. Qua khe vách nứa, trời mới hửng một vệt xám nhạt. Nằm bên cạnh, Bông ngủ say, hai tay ôm khư khư góc chăn, miệng hơi há, thở đều đều. Nguyên nằm im một lúc cho tim đập chậm lại. Mồ hôi đã thấm ướt lưng áo.
Nó đưa tay ra sau gáy, lần theo vết sẹo nhỏ ở đó. Một vòng tròn to bằng đồng tiền, mặt sẹo nhẵn và hơi lõm xuống. Từ khi biết nhớ, nó đã có vết sẹo này. Cũng từ khi biết nhớ, nó đã có giấc mơ này. Nó chưa kể với ai bao giờ. Kể ra thì cha sẽ bảo nó ăn no rửng mỡ, mẹ sẽ lo đến mất ngủ, còn Bông thì sẽ sợ không dám nằm một mình.
– Nguyên! Dậy! – Tiếng cha vang lên ngoài sân, khàn và to. – Mặt trời lên đến lưng chừng rồi mà còn nằm à?
Mặt trời chưa lên. Nhưng Nguyên không cãi. Nó khẽ khàng rút chân ra khỏi chăn cho Bông khỏi thức, vơ lấy cái áo nâu vắt trên vách rồi chạy ra.
Ngoài sân, cha đã mài xong hai lưỡi liềm. Ông ngồi xổm cạnh hòn đá mài, ngón cái miết dọc lưỡi thép để thử độ sắc, không ngẩng lên nhìn nó.
– Rửa mặt đi rồi ra đồng. Hôm nay phải gặt xong thửa ruộng dưới.
– Vâng.
Nước trong chum lạnh buốt. Nguyên vốc một vốc lên mặt, và cái lạnh ấy kéo nó ra khỏi căn phòng đá trong mơ.
Gió heo may từ phía núi thổi xuống, mang theo hơi lạnh đầu ngày và mùi rơm ẩm.
Cánh đồng làng Chân Mây trải dài dưới chân Vân Lĩnh. Lúa đã ngả vàng. Nhìn từ xa thì cũng vàng như mọi năm, cũng gợn sóng theo gió như mọi năm. Phải cầm lên tay mới biết.
Cha đi trước, tay trái túm gốc lúa, tay phải đưa liềm. Ông bước hơi tập tễnh vì cái chân trái năm nào bị cây đè khi đi đốn củi trên núi, nhưng tay thì vẫn nhanh. Mỗi nhát liềm kêu soạt một tiếng gọn ghẽ. Nguyên đi sau, gom lúa thành từng ôm, lấy lạt buộc lại thành bó.
Bó lúa to gần bằng nửa người nó, vậy mà ôm lên nhẹ tênh, như ôm một bó rơm.
Đến bó thứ năm, cha dừng tay. Ông túm một nắm bông lúa, đưa lên trước mặt, bóp mạnh. Hạt lúa vỡ ra dưới ngón tay, rỗng không, chỉ còn lớp vỏ trấu mỏng dính. Ông bóp nắm thứ hai. Rồi nắm thứ ba.
– Lép. – Cha nói, giọng khô khốc. – Lép hết.
Ông ném nắm lúa xuống ruộng, rồi chửi một tràng dài không nhắm vào ai cả: chửi trời, chửi đất, chửi cái năm khốn nạn, chửi luôn cả con chim sẻ vừa đậu xuống bờ ruộng. Con chim giật mình bay mất. Nguyên đứng im, ôm bó lúa, đợi cho cha chửi xong.
Ở thửa ruộng bên cạnh, ông cụ hàng xóm chống tay vào lưng, đứng thẳng dậy, thở ra một hơi dài.
– Đất bạc rồi, anh Tráng ạ. – Ông cụ nói. – Hồi tôi bằng thằng cháu nhà anh, ruộng này gặt về phơi kín cả sân, hạt nào hạt nấy chắc mẩy. Thế mà mười mấy năm nay cứ bạc dần, bạc dần. Cả làng đã sắm lễ ra đình cúng thành hoàng, có ăn thua gì đâu.
– Bạc thì cũng phải gặt. – Cha cúi xuống, vung liềm tiếp. – Không gặt thì lấy gì mà ăn.
– Nhà bá hộ Lưu cũng lép đấy. – Ông cụ hạ giọng. – Nhưng nhà ấy có cả trăm mẫu, lép một nửa vẫn còn đầy bồ. Còn nhà mình thì…
Ông cụ không nói hết câu. Cũng chẳng cần nói hết.
Nguyên đứng thẳng lưng, ngẩng lên nhìn.
Vân Lĩnh sừng sững ngay phía trên làng, gần đến mức tưởng như chỉ cần đi một buổi là chạm tới chân núi. Mây trắng quấn ngang sườn núi như một dải khăn dài, phía trên mây là rừng, xanh thẫm, xanh đến mức nhìn lâu thấy nhức mắt. Một dòng thác trắng như sợi chỉ bạc vắt từ lưng chừng núi xuống. Trên kia chẳng có gì giống mùa thu cả.
Còn dưới này, cỏ trên bờ ruộng đã úa vàng, cây đa đầu làng rụng gần trụi lá.
Sao trên núi tốt thế, mà dưới này cái gì cũng xấu?
Nó nghĩ vậy, nhưng không hỏi. Hỏi thì cha lại bảo nó lắm chuyện.
– Đứng ngây ra đấy làm gì? – Cha quát mà không quay lại. – Bó lúa!
Nguyên cúi xuống, làm tiếp.
Gần trưa, có tiếng gọi lanh lảnh từ phía đầu bờ:
– Anh Nguyên ơi!
Bông đang lẫm chẫm đi trên bờ ruộng, hai tay ôm cái ấm sành to gần bằng nửa người nó, nước bên trong sóng sánh theo từng bước chân. Hai chỏm tóc vàng hoe buộc bằng sợi chỉ đỏ ngúng nguẩy trên đầu. Đến chỗ bờ ruộng hẹp, nó bước chậm hẳn lại, lưỡi thè ra một chút vì cố gắng.
Nguyên chạy lên đỡ cái ấm.
– Mẹ bảo Bông mang nước ra cho cha với anh. – Bông nói, thở hổn hển, mặt đỏ bừng. – Bông mang không đổ giọt nào nhé.
– Ừ. Giỏi.
Bông cười toe, lộ ra cái răng cửa mới sún.
Cha uống một hơi hết nửa bát nước, lau miệng bằng mu bàn tay. Ông nhìn con gái một lúc. Nét mặt ông dịu đi một chút, chỉ một chút thôi, như mặt ruộng khô vừa được dội một gáo nước.
– Về đi. Nắng.
– Bông ở lại với anh cơ.
Rồi chẳng đợi ai cho phép, Bông lon ton đi theo sau Nguyên, cúi xuống nhặt từng bông lúa rơi trên mặt ruộng, bỏ vào vạt áo.
– Bông nhặt cho mẹ nấu cơm. – Nó giải thích, rất nghiêm túc.
Bông lúa nào nó nhặt cũng lép. Nhưng Nguyên không nói ra.
Nhà Nguyên có hai gian, mái rạ, vách nứa trát bùn. Mâm cơm trưa dọn trên cái chõng tre kê ngoài hiên cho mát.
Nồi cơm độn khoai, khoai nhiều hơn gạo. Một bát canh rau lang luộc. Một đĩa cá khô, ba con cá mương nhỏ bằng ngón tay, nướng cháy cạnh.
Mẹ xới cơm. Bát của cha đầy. Bát của Bông đầy có ngọn. Đến bát của Nguyên, đôi đũa cả trong tay mẹ dừng lại một chút. Rồi mẹ gạt bớt một ít cơm trả vào nồi, đặt thêm một khúc khoai lên trên, và đưa bát cho nó.
Nguyên thấy. Nó không nói gì. Nồi cơm chỉ có chừng ấy.
– Ăn đi các con. – Mẹ nói, rồi xới cho mình nửa bát, phần lớn là khoai.
Bông ăn chậm, nhặt khoai ra trước, để dành cơm trắng ăn sau. Nguyên thì ăn nhanh. Nó lùa từng miếng lớn, nhai vội, nuốt vội, như thể có ai sắp giật mất bát cơm. Ăn xong, nó vét sạch lòng bát, nhặt cả mấy hạt cơm dính ở miệng bát cho vào miệng.
Cha đang nhai, bỗng dừng lại, nhìn nó.
– Ăn như tằm ăn rỗi. – Ông nói. – Nuôi mày tốn cơm.
Mâm cơm im bặt. Mẹ cúi mặt xuống bát. Bông nhìn cha, rồi nhìn anh, đôi mắt một mí chớp chớp, không hiểu chuyện gì.
Nguyên đặt bát xuống. Nó không ngẩng lên. Hai tay đặt trên đầu gối, nắm lại.
Cha cũng không nói gì thêm. Ông cầm đũa, gắp con cá khô cuối cùng trên đĩa, bỏ vào bát Nguyên. Đũa chạm vào thành bát kêu cộc một tiếng.
– Ăn đi. – Ông nói, mắt nhìn ra ngõ. – Chiều còn gánh lúa.
Nguyên nhìn con cá khô nằm giữa lòng bát. Rồi nó nhìn cha. Ông đã quay đi, nhai miếng khoai chậm rãi như nhai sỏi, mắt vẫn không rời cái ngõ trống không.
Nó ăn con cá. Ăn từ đầu đến đuôi, không bỏ chút xương nào.
Mẹ thở ra một hơi rất khẽ.
– Một miếng khi đói bằng một gói khi no. – Mẹ nói nhỏ, chẳng rõ là nói với ai.
Ăn xong, Nguyên bê mâm ra cầu ao rửa bát. Mẹ đi theo sau. Đến chỗ khuất sau bụi chuối, mẹ liếc nhanh về phía hiên nhà, rồi rút từ trong vạt áo ra một củ khoai nướng gói trong lá chuối, dúi vào tay nó. Củ khoai còn ấm, vỏ cháy xém, thơm mùi tro bếp.
– Để dành. – Mẹ thì thầm. – Tối về muộn mà đói.
– Thế còn mẹ…
– Mẹ ăn rồi.
Mẹ chưa ăn. Nguyên biết. Nửa bát cơm của mẹ lúc nãy, phần lớn mẹ đã lặng lẽ gạt sang bát của Bông.
Mẹ xoa đầu nó một cái, bàn tay chai sần vì guồng sợi kéo qua mái tóc lởm chởm. Rồi mẹ quay vào. Một lúc sau, từ trong nhà vọng ra tiếng khung cửi lách cách, xen lẫn tiếng mẹ ngâm nga một câu hát ru không lời, khe khẽ, đều đều, như tiếng gió đưa võng.
Nguyên cất củ khoai vào túi áo.
Buổi chiều, Nguyên gánh lúa từ ruộng về sân phơi. Đôi quang gánh của nó nhỏ hơn của cha, do chính tay cha đẽo từ một cây tre đực năm nó lên sáu. Mỗi chuyến, nó gánh được bốn bó. Lúa lép nên gánh không nặng, nhưng đường từ ruộng về nhà phải đi qua gốc đa đầu làng.
Thằng Quý đang đứng ở đó.
Thằng Quý con nhà bá hộ Lưu, trạc tuổi Nguyên nhưng to con hơn hẳn, mặt tròn, má phính, mặc áo cánh trắng lành lặn không một miếng vá. Quanh nó có ba bốn đứa trẻ khác trong làng, đứa nào cũng đang cầm que đánh khăng.
– Ê! – Thằng Quý gọi to. – Thằng con hoang!
Mấy đứa kia cười khúc khích.
Nguyên vẫn đi. Bước chân không nhanh hơn, cũng không chậm lại.
– Tao gọi mày đấy, điếc à? – Thằng Quý chạy lên chặn trước mặt nó. – Mẹ tao bảo cha mày vớt mày dưới suối về chứ có đẻ ra mày đâu. Con hoang thì cũng như chó hoang mèo hoang thôi. Mày có biết cha mẹ mày là ai không? Hay cha mẹ mày quăng mày xuống suối vì mày xấu quá?
Bọn trẻ cười phá lên.
Nguyên dừng lại. Nó nhìn thẳng vào mặt thằng Quý. Không nói gì.
Có lẽ chính cái nhìn ấy làm thằng Quý khó chịu. Nó co chân đạp mạnh vào quang gánh. Đòn gánh trượt khỏi vai Nguyên, hai bó lúa văng xuống đường, lăn lông lốc.
– Lúa lép thế này mà cũng gánh. – Thằng Quý cười khẩy. – Nhà mày nghèo đến cả lúa cũng nghèo.
Nguyên cúi xuống nhặt lúa. Nó nhặt từng bó, phủi đất, buộc lại lạt cho chặt. Nó không nhìn thằng Quý nữa, như thể thằng Quý chỉ là một con chó đang sủa ngoài đường.
– Không được bắt nạt anh Bông!
Tiếng hét lanh lảnh vang lên sau lưng. Bông chẳng biết đã lẽo đẽo theo anh từ lúc nào, giờ chạy xồ tới, dang hai cánh tay gầy nhẳng đứng chắn trước mặt Nguyên. Đầu nó chỉ cao đến ngực thằng Quý.
Thằng Quý ngớ ra một thoáng, rồi bật cười. Nó đưa tay xô Bông một cái, không mạnh lắm, chỉ đủ để đuổi một đứa trẻ con. Nhưng Bông nhẹ quá. Con bé ngã ngửa ra đường, đầu gối quệt xuống mặt đất lổn nhổn sỏi. Một thoáng im lặng, rồi Bông khóc ré lên.
Có cái gì đó trong đầu Nguyên đứt phựt.
Nó không nhớ mình đã buông bó lúa lúc nào. Nó chỉ biết mình đã lao thẳng vào thằng Quý, đầu húc vào ngực, hai tay ôm chặt lấy người nó. Thằng Quý to hơn, nặng hơn, nhưng không ngờ bị lao vào nên ngã nhào. Hai đứa lăn ra đất. Thằng Quý vung nắm đấm, trúng ngay miệng Nguyên. Vị mặn tanh của máu tràn ra đầu lưỡi. Nhưng Nguyên không buông. Nó đè lên ngực thằng Quý, hai tay ghì chặt lấy cổ áo nó, mắt nhìn trừng trừng, không chớp.
– Mày xin lỗi em tao. – Nguyên nói. Giọng nó không to, nhưng mỗi chữ đều rõ.
– Buông ra! Thằng con hoang, buông tao ra!
– Xin lỗi em tao.
– Thôi! Thôi! – Bà cụ bán nước dưới gốc đa tất tả chạy ra, tay vẫn còn cầm cái muôi gáo dừa. – Trẻ con đánh nhau đổ máu ra rồi kìa! Thôi ngay!
Hai người đàn ông đang ngồi uống chè trong quán cũng chạy ra, mỗi người kéo một đứa. Nguyên bị nhấc bổng lên khỏi người thằng Quý, hai tay vẫn còn nắm chặt, giật đứt cả một mảng cổ áo trắng.
Thằng Quý lồm cồm bò dậy, mặt đỏ gay, áo rách, dính đầy đất. Nó nhìn Nguyên, rồi nhìn mảnh áo rách, môi méo xệch.
– Mày chết với tao! – Nó gào lên. – Tao về mách cha tao!
Rồi nó vùng chạy, bọn trẻ kia lục tục chạy theo.
Hai người đàn ông thả Nguyên xuống. Một người lắc đầu, chặc lưỡi:
– Thằng con nuôi nhà Tráng gan thật. Dám đánh cả con bá hộ.
– Gan thì gan. – Người kia nói. – Mai bá hộ không cho vợ Tráng dệt thuê nữa thì cả nhà ăn đất.
Họ quay vào quán, ngồi xuống, rót chè. Nguyên chạy lại đỡ Bông dậy. Đầu gối con bé trầy một mảng, rớm máu, nước mắt nước mũi tèm lem. Nguyên lấy vạt áo lau mặt cho em.
– Đau lắm không?
– Đau… – Bông nấc lên. – Nó xô Bông…
– Ừ. Anh biết.
Trong quán nước, người ta đã quên chuyện trẻ con đánh nhau, chuyển sang chuyện khác.
– Nghe nói chiều nay có đoàn buôn đi qua làng mình đấy. – Một người nói. – Đoàn buôn từ phương Nam lên.
– Phương Nam xa lắc xa lơ, lên tận đây buôn bán gì?
– Ai biết. Thuốc men, vải vóc gì đấy. Thằng em vợ tôi gặp họ ở bến đò hôm kia, bảo họ đi nhiều xe lắm.
Bà cụ bán nước đặt ấm chè xuống, giọng chợt hạ thấp:
– Mà này, các anh nghe chuyện làng Đồng Sậy chưa? Lại mất một đứa nữa đấy.
Quán nước lặng đi.
– Thằng bé lên sáu. – Bà cụ nói tiếp. – Đi chăn trâu ven chân núi rồi không thấy về. Trâu thì tự về chuồng, còn người thì không. Cả làng đốt đuốc đi tìm suốt hai đêm, chẳng thấy cả cái nón.
– Năm nay là đứa thứ mấy rồi?
– Đứa thứ ba.
Không ai nói gì một lúc lâu. Rồi có người lẩm bẩm:
– Ma núi bắt đấy. Đứa nào lảng vảng gần chân núi lúc chạng vạng là ma núi bắt.
Nguyên đứng nghe, tay vẫn đỡ Bông. Không hiểu sao, nó lại đưa tay ra sau gáy, chạm vào vết sẹo.
– Nguyên! Bông!
Mẹ hớt hải chạy ra từ đầu ngõ, khăn vấn lệch hẳn sang một bên. Chắc có ai đã chạy về báo. Mẹ nhìn đầu gối Bông, nhìn khoé miệng sưng vều còn dính máu của Nguyên, rồi nhìn về phía nhà bá hộ, nơi thằng Quý vừa chạy về.
– Trời ơi là trời. – Mẹ ngồi thụp xuống, lấy vạt áo chấm máu trên môi Nguyên. – Con đánh con nhà bá hộ thì mai mẹ lấy đâu ra việc mà làm hả con?
Nguyên cúi đầu.
– Nó xô ngã em.
Mẹ im lặng. Bàn tay đang chấm vết máu chậm lại. Một lúc sau, mẹ thở dài, giọng mềm hẳn đi:
– Có đau không?
– Không đau.
– Không đau mà sưng thế này. – Mẹ lắc đầu, rồi kéo cả hai đứa vào lòng. – Từ giờ hai đứa không được đi đâu xa, nghe chưa? Chiều tối không được ra gần chân núi. Làng bên mất trẻ đấy.
– Mất trẻ là sao hả mẹ? – Bông hỏi, quên cả khóc.
Mẹ không trả lời. Mẹ chỉ ôm hai đứa chặt hơn.
Đến khi gánh xong chuyến lúa cuối cùng thì trời đã về chiều.
Lúc Nguyên đi qua hiên, cha đang ngồi trên bậc thềm, ôm cái điếu cày. Ông rít một hơi dài, tiếng nước trong điếu kêu sòng sọc, rồi nhả ra một làn khói trắng. Khói bay lên, tan vào ánh chiều đỏ ối.
Ông đang nhìn về phía núi.
Trên đỉnh Vân Lĩnh, mây đã nhuộm sang màu hồng. Cha nhìn đỉnh núi ấy chăm chú, lâu lắm, lâu đến mức tàn thuốc trong nõ điếu đã nguội mà ông không rít thêm hơi nào.
– Cha nhìn gì thế? – Nguyên buột miệng hỏi.
Cha giật mình như vừa bị ai đánh thức. Ông quay sang, nhìn nó, rồi lại nhìn lên trời.
– Nhìn xem mai có mưa không.
Trời quang. Ngoài đám mây trên đỉnh núi, cả bầu trời không có lấy một gợn mây nào. Nguyên biết mai trời không mưa. Nhưng nó không nói.
Cha nạp thêm một mồi thuốc, châm lửa. Rít một hơi. Rồi ông nói, không nhìn nó:
– Chiều nay đánh nhau với thằng Quý à?
Nguyên đứng im.
– Vâng.
– Nó đánh mày trước?
– Nó xô ngã con Bông.
Cha không nói gì. Khói thuốc lại bay lên. Nguyên đứng đợi một trận mắng, hay một cái bạt tai, như mọi lần.
– Lần sau có đánh thì đánh cho trúng. – Cha nói. – Lao đầu vào như con bê thế kia, nó đấm vỡ mồm là phải.
Rồi ông phẩy tay.
– Đi đi.
Nguyên đứng ngẩn ra một lúc, rồi mới đi.
Nó ra ngồi trên bờ ruộng đầu làng, chỗ quen thuộc mỗi khi muốn ở một mình.
Ruộng đã gặt trơ gốc rạ. Gió heo may thổi qua, lạnh hơn ban sáng. Xa xa, khói bếp nhà ai bốc lên, mảnh như sợi chỉ. Nguyên rút củ khoai nướng trong túi áo ra. Lá chuối đã khô, củ khoai đã nguội hẳn. Nó cầm củ khoai trong tay, xoay đi xoay lại, nhưng không ăn.
Bông thích khoai nướng nhất. Chiều nay Bông đã khóc rất lâu. Tối về, nó sẽ đưa củ khoai này cho em.
Nó nghĩ đến câu thằng Quý nói. Cha mày vớt mày dưới suối về chứ có đẻ ra mày đâu.
Cái đó thì nó biết. Mẹ đã kể cho nó nghe từ lâu: năm nó lên ba, cha đi đốn củi về, thấy nó mắc vào một cành cây gãy giữa dòng suối dưới chân núi, ướt sũng, lạnh ngắt, chỉ còn thoi thóp thở. Cha lội xuống vớt nó lên, ôm về. Mẹ thức ba đêm liền đắp khăn ấm cho nó. Nó không nhớ gì về những chuyện trước đó. Không nhớ cha mẹ ruột, không nhớ tên mình, không nhớ vì sao mình lại ở dưới suối.
Nó chỉ nhớ căn phòng đá trong mơ.
Nguyên đã ra con suối ấy nhiều lần, ngồi rất lâu trên bãi đá, nhìn dòng nước chảy từ trên núi xuống. Nước trong và lạnh, chảy mãi, chảy mãi, chẳng bao giờ trả lời nó điều gì.
Leng keng.
Nguyên ngẩng lên.
Leng keng. Leng keng.
Tiếng chuông nhỏ, trong veo, như tiếng nước rỏ xuống chum. Nó vọng lại từ phía con đường đất dẫn vào làng.
Một đoàn xe ngựa đang chầm chậm đi tới. Bốn cỗ xe phủ bạt nâu, bánh xe nghiến lên đường đất lạo xạo. Những người đánh xe đội nón lá, mặc áo vải thô, trông chẳng khác gì những người buôn bán bình thường. Đoàn buôn phương Nam mà người ta nói ở quán nước lúc chiều.
Nhưng tiếng chuông kia không phát ra từ cổ ngựa. Ngựa không đeo chuông. Tiếng chuông nhỏ hơn, mảnh hơn, và nó phát ra từ cỗ xe cuối cùng.
Đoàn xe đi ngang qua bờ ruộng, cách chỗ Nguyên ngồi chưa đầy chục bước. Cỗ xe thứ nhất. Cỗ xe thứ hai. Cỗ xe thứ ba.
Cỗ xe cuối cùng đi chậm hơn cả. Cửa xe che bằng một tấm rèm tre. Và tấm rèm tre ấy đang hé ra một khe nhỏ.
Sau khe hở, có một đôi mắt tròn xoe đang nhìn Nguyên.