Lạc Hồng Tiên Lộ

Chương 2: Lục lạc bạc

– Nhìn gì mà nhìn? – Nguyên lẩm bẩm.

Nó không quay đi.

Đôi mắt sau khe rèm cũng không quay đi. Hai đứa cứ thế nhìn nhau, một đứa ngồi trên bờ ruộng, một đứa nấp sau tấm rèm tre, trong lúc cỗ xe lăn chậm qua trước mặt. Rồi khe rèm hé rộng thêm một chút, đủ để Nguyên thấy một cái mũi nhỏ, hai cái má phúng phính, và một cái lưỡi đỏ hỏn thè ra trêu nó.

Rèm tre khép lại cái xoạch.

Nguyên ngồi ngây ra, tay vẫn cầm củ khoai. Một lúc sau nó mới biết mình vừa bị trêu.

Leng keng. Leng keng.

Tiếng chuông lại vang lên, nhỏ dần theo bánh xe. Nhưng đoàn xe không đi thẳng ra con đường cái băng qua làng như mọi đoàn buôn khác. Đến gốc đa đầu làng, cỗ xe đầu tiên rẽ trái, đi vào sân đình. Ba cỗ xe còn lại nối đuôi theo sau.

Nguyên đứng dậy. Nó nhét củ khoai vào túi áo, men theo bờ ruộng đi về phía đình. Nó không định đi theo. Nó chỉ tiện đường về nhà thôi. Nó tự nhủ như thế.


Đình làng Chân Mây cũ lắm. Mái ngói đã xô lệch, rêu phủ xanh mấy con rồng đắp trên nóc. Trước đình có một khoảng sân gạch rộng, ngày hội làng thì người đông nghìn nghịt, còn ngày thường chỉ có lũ gà nhà ông thủ từ ra bới đất. Thỉnh thoảng có đoàn buôn đi ngang, người ta cũng xin nghỉ nhờ sân đình một đêm.

Nguyên nấp sau gốc đa, nhìn vào.

Những người trong đoàn làm việc rất lặng lẽ. Không ai gọi ai ầm ĩ, không ai cãi nhau xem nên tháo ngựa trước hay dựng lều trước. Bốn cỗ xe được kéo vào giữa sân rồi quây lại thành một vòng tròn, đầu xe này chạm đuôi xe kia, kín như một cái sân nhỏ nằm giữa sân đình. Cỗ xe cuối cùng nằm lọt vào giữa vòng, như quả trứng nằm trong tổ.

Người đánh xe của cỗ xe ấy nhảy xuống, tháo nón lá ra quạt mấy cái.

Nguyên nhìn bàn tay ông ta.

Nó biết tay người làm lụng trông thế nào. Tay cha nó chai cứng như vỏ cây, móng tay lúc nào cũng đen đất. Tay mẹ nó chai ở đầu ngón vì guồng sợi. Còn bàn tay người đánh xe kia trắng và sạch, ngón tay dài, không thấy một vết chai nào.

Người ta bảo đoàn này đi buôn từ phương Nam lên. Đi buôn đường xa mà tay lại trắng thế.

Người đánh xe đứng quay lưng về phía cỗ xe, mắt đảo một vòng quanh sân đình. Nhìn cổng đình. Nhìn hàng rào dâm bụt. Nhìn gốc đa.

Nguyên rụt đầu lại. Tim nó đập thình thịch, như vừa bị bắt quả tang ăn vụng.

Leng keng…

Tiếng chuông chỉ vang lên một tiếng rồi tắt ngấm, đột ngột như có ai vừa nắm chặt lấy nó.

Lúc Nguyên dám ló đầu ra lần nữa thì mấy người làng đã kéo đến cổng đình. Có bà hàng xén muốn hỏi mua kim chỉ. Có chị con dâu nhà ông thủ từ muốn xem vải. Một người đàn ông trong đoàn bước ra, nói gì đó, giọng nhỏ nhẹ, mềm và ngân như người ta hát. Nguyên chỉ nghe loáng thoáng:

– …hàng có mối cả rồi, bà con thông cảm… sáng mai chúng tôi đi sớm…

Bà hàng xén về, miệng còn lầm bầm: "Buôn bán gì mà có hàng không bán."

Trời tối dần. Người trong đoàn nhóm một đống lửa nhỏ ở góc sân, lửa cháy thấp, gần như không có khói.

Nguyên biết mình nên về. Mẹ đã dặn chiều tối không được đi đâu xa. Nhưng nó không về bằng đường cổng đình. Nó đi vòng ra phía sau.


Sau đình có một cái ao. Ao rộng, nước đen thẫm, bờ ao mọc đầy rau muống dại và mấy bụi dứa dại gai tua tủa. Con đường tắt về nhà Nguyên chạy dọc theo bờ ao ấy.

Trăng đã lên. Trăng gần rằm, to và vàng như cái mâm đồng, treo ngay trên ngọn tre. Mặt ao sáng lên một vệt dài lấp lánh.

Và bên mép nước, có một đứa trẻ đang ngồi xổm.

Nguyên dừng phắt lại.

Đứa trẻ nhỏ hơn Bông một chút, có khi bằng. Nó mặc bộ áo quần màu sẫm, tóc buộc thành hai túm nhỏ trên đầu. Nó đang thò một bàn tay xuống nước và thì thầm gì đó, khe khẽ, như đang dỗ ai ngủ.

Mặt nước quanh bàn tay nó gợn lên. Một con cá rô ngoi lên. Rồi một con nữa. Rồi năm, sáu con, cả mấy con cá mương nhỏ xíu, xúm lại quanh mấy ngón tay bé tí, đớp đớp, như đàn gà con quanh nắm thóc.

Nguyên chưa thấy cái gì như thế bao giờ. Nó chăn trâu thuê, bắt cá từ năm lên năm, cá rô ở ao này nó biết rõ. Chúng nhát lắm, thấy bóng người là lặn mất tăm.

Chắc nó cầm cơm trong tay.

Nó bước tới một bước. Một cành tre khô gãy rắc dưới chân.

Đàn cá tan biến. Đứa trẻ quay phắt lại.

Là đôi mắt ấy. Tròn xoe, đen láy, có ánh trăng nằm trong đó.

– Ngươi là ai? – Con bé hỏi.

Giọng nó mềm và ngân như giọng người đàn ông ở sân đình lúc nãy. Nhưng cái cách nó nói thì làm Nguyên ngớ ra. Ngươi. Trong làng chẳng ai nói thế. Chỉ có ông đồ đọc sách mới nói thế.

– Mày là ai? – Nguyên hỏi lại.

– Ta hỏi trước. – Con bé đứng dậy, chống hai tay vào hông. – Ngươi trả lời trước.

– Đây là làng tao. Mày mới là đứa lạ.

Con bé nghiêng đầu, nhìn nó từ đầu xuống chân, rồi từ chân lên đầu, như bà hàng xén ngắm một xấp vải.

– Ngươi là đứa ngồi ở bờ ruộng.

– Ừ.

– Ngươi đen thế.

– …

– Môi ngươi sưng kìa. Ngươi đánh nhau à?

Nguyên đưa tay lên sờ khoé miệng. Vết rách đã khô, nhưng chạm vào vẫn còn rát.

– Không phải việc của mày.

– Ngươi thua phải không?

– Tao không thua.

– Thế sao ngươi bị sưng mà không phải người kia bị sưng?

Nguyên há miệng định cãi, rồi ngậm lại. Nó không biết thằng Quý có sưng chỗ nào không. Chắc là không.

Con bé phá lên cười, tiếng cười trong veo như tiếng chuông lúc chiều. Rồi nó lại ngồi xổm xuống mép ao, như thể Nguyên chẳng còn đáng để nó nhìn nữa.

– Này, – con bé nói mà không quay lại, – ta đố ngươi. Cái gì không có miệng mà biết hát, không có chân mà đi theo người ta khắp nơi?

Nguyên nhìn xuống chân con bé. Ống quần nó vén lên đến bắp chân cho khỏi ướt. Trên mỗi cổ chân có buộc một sợi dây đỏ, đầu dây đeo một vật nhỏ, tròn, ánh lên dưới trăng.

– Cái lục lạc của mày.

Con bé quay lại, mặt xị xuống.

– Sao ngươi đoán được?

– Vì nó kêu suốt cả đường.

– Không đúng. Ta cho nó kêu thì nó mới kêu. – Con bé nói, rồi như để chứng minh, nó khẽ lắc cổ chân. Leng keng. Tiếng chuông nhỏ vang trên mặt ao, rồi lan ra, lan mãi, như những vòng sóng.

Nó chợt nhíu mày, đưa tay giữ lấy chiếc lục lạc, ngó về phía sân đình. Một lúc lâu không thấy gì, nó mới thở ra, rồi quay sang Nguyên, mũi khịt khịt.

– Ngươi có cái gì thơm thế?

– Có gì đâu.

– Có. – Con bé đứng phắt dậy, bước lại gần, hít hít như con mèo con. – Ở trong áo ngươi. Thơm mùi khói bếp. Là khoai nướng.

Nguyên đưa tay giữ túi áo theo phản xạ. Thế là lộ.

– Cho ta ăn với. – Con bé chìa tay ra, thẳng thắn như thể đó là chuyện đương nhiên nhất trên đời.

– Không được. Của em tao.

– Em ngươi đâu?

– Ở nhà.

– Thế em ngươi có ở đây đâu.

Nguyên cứng họng. Con bé này nói câu nào cũng như cái móc câu, móc vào là không gỡ ra được.

Nó rút củ khoai ra. Lá chuối gói bên ngoài đã khô giòn, củ khoai nguội ngắt. Nó nhìn củ khoai. Rồi nhìn con bé.

Con bé không giành. Nó chỉ đứng đấy, hai tay chắp sau lưng, mắt nhìn củ khoai rồi nhìn Nguyên, rồi lại nhìn củ khoai. Nó không năn nỉ thêm câu nào. Nhưng cái cổ họng nhỏ xíu kia khẽ nuốt nước bọt một cái, và Nguyên trông thấy.

Nguyên nghĩ đến Bông. Bông thích khoai nướng nhất. Bông đã khóc rất lâu chiều nay.

Rồi nó bẻ đôi củ khoai.

Ruột khoai vàng ươm, bở tơi. Củ khoai đã nguội từ lâu, nhưng Nguyên vẫn thấy nó thơm như lúc mẹ vừa vùi trong tro bếp lên.

Nó đưa nửa nhỏ hơn cho con bé. Rồi nghĩ một chút, nó rút lại, đưa nửa to hơn. Nửa nhỏ nó gói lại vào lá chuối, cất vào túi áo.

– Nửa này của em tao. Không được đòi nữa.

Con bé cầm lấy nửa củ khoai bằng cả hai tay. Nó cắn một miếng nhỏ. Rồi một miếng to. Rồi nó ăn ngấu nghiến, má phồng lên như con sóc, chẳng ra dáng cái đứa vừa nói ta với ngươi tí nào.

– Ngọt. – Nó nói, miệng vẫn đầy khoai. – Ngọt hơn kẹo mạch nha.

– Khoai thì phải ngọt.

– Khoai chỗ ta không ngọt thế này.

Nguyên không biết chỗ của con bé là chỗ nào. Nó đứng nhìn con bé ăn, nhìn cho đến miếng cuối cùng, và thấy bụng mình kêu lên một tiếng rõ to. Con bé nghe thấy. Nó ngẩng lên nhìn Nguyên, rồi nhìn hai bàn tay trống không của mình, như lúc ấy mới nghĩ ra điều gì.

Nó im lặng một lúc. Rồi nó ngồi thụp xuống, kéo ống quần lên, đưa tay tháo sợi dây đỏ ở cổ chân trái.

Ngón tay nó bé quá, nút dây lại thắt chặt. Nó loay hoay mãi, lưỡi thè ra một chút vì cố gắng, y hệt Bông lúc ôm ấm nước đi trên bờ ruộng. Cuối cùng nút dây cũng tuột ra. Con bé đứng dậy, nắm lấy tay Nguyên, lật ngửa ra, đặt chiếc lục lạc vào lòng bàn tay nó, rồi gập mấy ngón tay nó lại.

– Đổi đấy. – Con bé nói.

Chiếc lục lạc còn ấm hơi người. Nó nằm gọn trong nắm tay Nguyên, nặng hơn nó tưởng, lạnh ở mặt bạc và ấm ở chỗ vừa áp vào da.

– Tao không cần…

– Cho anh đấy.

Rồi con bé cười.

Nó cười không giống bọn trẻ trong làng. Bọn trẻ trong làng cười há miệng, cười ré lên, cười chảy cả nước mũi. Con bé này cười bằng mắt trước. Đôi mắt tròn xoe kia cong lại, cong mãi, cho đến khi thành hai vầng trăng khuyết, giống hệt vầng trăng non mà Nguyên vẫn thấy treo trên ngọn tre những đêm đầu tháng.

Nguyên đứng sững. Nó quên cả cái môi sưng, quên cả việc trời đã tối lắm rồi và mẹ thì đang đợi.

Trong làng chưa ai cười với nó như thế bao giờ.


– Về.

Giọng nói vang lên từ phía sau đình. Trầm, ngắn, không to. Chỉ một chữ.

Nhưng con bé giật nảy người như bị ai véo. Nụ cười tắt ngay. Nó vội vàng cúi xuống, kéo ống quần trùm kín xuống tận mắt cá chân, che đi cái cổ chân trái giờ chỉ còn trơ một vệt dây hằn đỏ.

Nguyên ngẩng lên.

Trong bóng tối dưới hàng tre, có một người đàn bà đứng đó. Nguyên không biết bà ta đứng đó từ lúc nào. Nó không nghe tiếng chân, không nghe tiếng lá tre xào xạc. Bà ta cao, dáng thẳng như cây cau, mặc áo màu sẫm, trên mái tóc búi gọn có cài một cây trâm bạc ánh lên dưới trăng. Gương mặt bà trắng lạnh, đẹp, nhưng chẳng có nét nào động đậy. Trông như tượng.

Con bé chạy lại, nắm lấy vạt áo bà. Nó không ngoái lại.

Người đàn bà không nhìn con bé. Bà nhìn Nguyên.

Chỉ một lần thôi. Đôi mắt dài ấy lướt từ đầu xuống chân nó, chậm rãi, như người ta đếm tiền, như người ta cân thóc. Bà không hỏi nó là ai. Bà không cần hỏi. Nguyên có cảm giác chỉ trong một cái nhìn, người đàn bà ấy đã biết nó tên gì, nhà ở đâu, hôm nay đánh nhau với ai, và trong nắm tay nó đang giấu thứ gì.

Gáy nó lạnh toát.

Nó nắm chặt tay hơn.

Rồi người đàn bà quay đi, dắt theo con bé. Hai cái bóng, một cao một thấp, đi lẫn vào hàng tre, không một tiếng động. Lúc ấy Nguyên mới nhận ra trên cổ chân con bé, chiếc lục lạc còn lại không kêu lấy một tiếng.

Nguyên mở nắm tay ra. Chiếc lục lạc vẫn nằm đó.


Mẹ đứng ở đầu ngõ, tay cầm ngọn đèn dầu lạc. Ngọn lửa nhỏ như hạt đậu, run run trong gió.

– Con đi đâu đến giờ này hả? – Mẹ hỏi, giọng gắt lên mà run run như ngọn đèn. – Mẹ dặn thế nào? Chiều tối không được đi đâu! Làng bên mất trẻ đấy, con có biết không hả?

– Con xin lỗi mẹ.

– Xin lỗi! Ma núi nó bắt mất thì xin lỗi ai? – Mẹ giơ tay lên. Nguyên nhắm mắt lại chờ. Nhưng bàn tay ấy chỉ hạ xuống, phủi mấy cọng rơm dính trên vai áo nó. – Vào nhà. Cơm để phần trong chạn.

Trong nhà tối om. Ở gian bên, cha đã ngủ, tiếng ngáy đều đều. Tiếng ngáy ngừng lại một lúc lâu khi Nguyên bước qua bậc cửa, rồi lại tiếp tục.

Bông nằm cuộn tròn trên chõng, ôm góc chăn, đầu gối trầy được mẹ đắp một nắm lá giã nhỏ. Nguyên ngồi xuống mép chõng, lay khẽ vai em.

– Bông. Bông ơi.

– Ưm…

– Dậy ăn khoai này.

Nghe đến chữ "khoai", Bông mở mắt ra ngay, dù mắt nhắm mắt mở. Nó ngồi dậy, đón lấy nửa củ khoai bằng hai tay, cắn một miếng, nhai chậm rì rì, đầu gật gà gật gù.

– Ngon… – Bông lầm bầm. – Sao có nửa củ hả anh?

– Anh ăn rồi.

Bông không hỏi gì nữa. Nó ăn hết nửa củ khoai, liếm sạch cả mấy ngón tay, rồi đổ vật xuống chõng, ngủ tiếp như chưa từng thức dậy. Nguyên kéo chăn đắp lại cho em.

Bát cơm để phần trong chạn chỉ có lưng lửng. Nguyên ăn hết, vẫn còn đói, nhưng không thấy tiếc nửa củ khoai.

Nó nằm xuống cạnh Bông. Ánh trăng lọt qua khe vách nứa, vạch một đường sáng mảnh trên nền đất. Nguyên giơ nắm tay lên, mở ra, đưa chiếc lục lạc vào đúng vệt sáng ấy.

Chiếc lục lạc bằng bạc, tròn như quả nhót, có một khe hở chạy ngang thân, bên trong là một hòn bi nhỏ. Trên mặt bạc có khắc hình. Nguyên phải xoay đi xoay lại mấy lần, nheo mắt nhìn mãi mới thấy rõ.

Một vầng trăng khuyết. Bên dưới là mấy đường cong lượn sóng, như mặt nước đang gợn.

Trăng khuyết trên mặt sóng.

Nó nghĩ đến đôi mắt cong cong lúc con bé cười. Rồi nó nghĩ đến người đàn bà đứng dưới hàng tre.

Nó khẽ đưa ngón tay chặn lấy khe hở, không cho hòn bi bên trong lăn, rồi luồn tay xuống dưới manh chiếu, nhét chiếc lục lạc vào sát mép chõng, nơi không ai ngờ tới. Nó không định kể với ai.

Đêm ấy Nguyên ngủ một mạch đến sáng.

Lần đầu tiên sau rất lâu, nó không mơ thấy căn phòng đá.


Gà mới gáy lần thứ hai, Nguyên đã vùng dậy chạy ra đình.

Sương sớm phủ trắng mặt ruộng. Nó chạy một mạch, thở phì phò, đến cổng đình thì dừng lại.

Sân đình trống trơn.

Không còn xe, không còn ngựa, không còn người. Đống lửa ở góc sân đã được lấp đất lên kỹ càng, phẳng phiu, nếu không để ý thì chẳng ai biết đêm qua có người nhóm lửa ở đây. Chỉ có mấy con gà nhà ông thủ từ đang bới bới đất, và trên nền gạch còn hằn lại những vệt bánh xe lấm bùn.

Ông thủ từ đang quét lá đa, thấy Nguyên đứng thở thì ngẩng lên:

– Đi từ lúc gà chưa gáy rồi. Đoàn buôn gì mà đi như ma ấy.

Nguyên không đáp. Nó đi theo những vệt bánh xe ra khỏi cổng đình.

Ra đến gốc đa, vệt bánh xe không rẽ phải ra đường cái như nó tưởng. Nó rẽ trái. Rẽ về phía con đường đất nhỏ chạy men theo chân núi xuống bến đò ngang, con đường mà người làng Chân Mây chỉ đi khi có việc sang làng Đồng Sậy bên kia sông.

Nguyên đứng ở ngã rẽ rất lâu.

Phía trước, con đường đất chìm vào màn sương, chỉ thấy được chừng chục bước. Phía trên, Vân Lĩnh vẫn sừng sững như mọi ngày, mây trắng quấn ngang lưng chừng núi. Nó nhớ lời mẹ: chiều tối không được ra gần chân núi. Nó nhớ lời người ở quán nước: ma núi bắt đấy.

Nó luồn tay vào túi áo. Đầu ngón tay chạm vào mặt bạc nhẵn, mát lạnh. Sáng nay, trước khi ra khỏi nhà, nó đã lén lấy chiếc lục lạc từ dưới chiếu ra.

Nó lắc nhẹ.

Leng keng.

Tiếng chuông nhỏ, trong veo, lan vào màn sương, rồi mất hút. Chẳng có tiếng nào đáp lại.


Sương ở chân núi dày hơn ngoài đồng. Cỗ xe cuối cùng lắc lư trên con đường đá gồ ghề, bánh xe chốc chốc lại vấp vào một hòn đá, nghe cộc một tiếng.

Người đàn bà ngồi thẳng lưng trong xe, mắt nhắm, nhưng không ngủ.

Con bé ngủ gục trên đùi mẹ từ lúc xe mới lăn bánh. Nó ngủ say, miệng hơi chúm lại, thỉnh thoảng lại chép chép như đang ăn gì ngon lắm. Khoé miệng còn dính một vệt vàng vàng. Người mẹ đưa ngón tay quệt đi, đưa lên mũi. Mùi khoai nướng.

Bà mở mắt ra.

Bà kéo ống quần của con gái lên. Trên cổ chân phải, chiếc lục lạc vẫn ở đó, nhưng nắm bông bà nhét vào bên trong từ hôm vượt sông đã bị moi ra, chẳng biết từ lúc nào. Thảo nào chiều qua cả đoàn đi qua làng mà tiếng chuông cứ leng keng mãi. Bà còn tưởng bông bị xô lệch.

Bà kéo nốt ống quần bên kia.

Cổ chân trái trống không. Chỉ còn một vệt hằn đỏ mờ mờ, chỗ sợi dây đã từng buộc từ ngày con bé mới lọt lòng, trên một con thuyền giữa sông, trong một đêm trăng rằm.

Bà ngồi im rất lâu. Rồi bà khẽ lay vai con gái.

– Con.

Con bé dụi mắt, ngồi dậy, ngáp một cái thật to.

– Chiếc kia đâu?

Nó nhìn xuống cổ chân mình. Rồi nhìn mẹ. Con bé không sợ, cũng không chối. Nó chỉ cười.

– Con cho anh ấy rồi.

– Anh nào?

– Anh có củ khoai.

Bà không nói gì. Bà nhớ ra thằng bé ở bờ ao. Gầy, đen nhẻm, môi sưng, tóc cắt lởm chởm như bị chuột gặm. Một đứa trẻ nhà quê như trăm nghìn đứa trẻ nhà quê khác dưới chân núi này. Chỉ có một điều khác. Khi bà nhìn nó, nó không cúi mặt xuống. Người lớn bị bà nhìn như thế còn phải cúi mặt. Thằng bé ấy thì nắm chặt tay lại, và nhìn thẳng vào bà.

Bà có thể sai người quay lại đòi. Dễ thôi.

Nhưng quay lại thì cả làng sẽ nhớ có một đoàn buôn đã đi rồi còn quay lại tìm một thằng bé. Người ta sẽ hỏi. Người ta sẽ kể cho nhau nghe. Mà đoàn của bà lên đây không phải để cho người ta kể cho nhau nghe. Phía trước, làng Đồng Sậy đang đợi, cùng với ba đứa trẻ đã biến mất trong năm nay, và con suối từ trên núi chảy xuống.

Bà vén rèm tre lên một chút, nhìn về phía sau.

Làng Chân Mây đã nhỏ lại thành một vệt lũy tre mờ mờ trong sương. Phía trên làng, đỉnh Vân Lĩnh vẫn quấn mây trắng, đẹp như một bức tranh. Người đàn bà nhìn đỉnh núi ấy rất lâu, ánh mắt lạnh đi từng chút một.

– Đi tiếp. – Bà nói khẽ.

Người đánh xe không quay đầu lại. Cỗ xe vẫn lăn đều.

Bà buông rèm.

Con bé ngả đầu vào vai mẹ, mắt lại díp lại. Trong giấc ngủ chập chờn, nó khẽ lắc cổ chân, như vẫn hay làm mỗi khi vui.

Leng keng.

Chiếc lục lạc còn lại kêu lên một tiếng, nhỏ và trong.

Lần này, bà không đưa tay giữ nó lại.