Chương 3: Thúng thóc
Sương đã tan hẳn khi Nguyên về đến đầu ngõ.
Nó đi chậm, tay vẫn đút trong túi áo, ngón cái miết đi miết lại trên mặt bạc nhẵn của chiếc lục lạc. Đầu nó còn đầy những thứ của đêm qua: đàn cá rô quanh mấy ngón tay bé xíu, đôi mắt cong cong như trăng khuyết, người đàn bà đứng dưới hàng tre. Rồi vệt bánh xe rẽ về phía chân núi.
Đến cổng nhà, nó dừng lại.
Có người đang đứng ở cổng. Một người đàn ông gầy, mặt dài như cái bầu nậm, mặc áo the đen đã sờn ở cổ tay, dưới nách kẹp một quyển sổ bìa vải. Nguyên biết người này. Cả làng Chân Mây ai cũng biết. Ông quản Tư nhà bá hộ Lưu. Ông quản đến nhà ai thì nhà ấy hoặc sắp phải trả nợ, hoặc sắp phải vay thêm nợ.
Mẹ đứng trong sân, hai tay còn ướt nước vo gạo.
– Ông bá cho gọi chị lên. – Ông quản nói, giọng đều đều như đọc sổ. – Có cả thằng cháu nữa.
Mẹ quay lại, nhìn thấy Nguyên. Mặt mẹ tái đi. Mẹ chùi hai tay vào vạt áo, chùi mãi, chùi cả khi tay đã khô.
– Vâng. – Mẹ nói. – Ông quản đi trước, mẹ con tôi lên ngay.
Ông quản gật đầu, quay đi. Đi được mấy bước, ông ta ngoái lại, nhìn Nguyên từ đầu xuống chân, rồi chặc lưỡi một cái, không rõ là thương hay là chê.
Bông ló đầu ra từ trong nhà, tóc còn rối bù.
– Mẹ ơi, đi đâu thế?
– Con ở nhà. – Mẹ nói. – Trông nồi cơm cho mẹ. Đừng có chạy đi đâu.
Mẹ nắm lấy cổ tay Nguyên. Bàn tay mẹ lạnh ngắt.
Cha đã ra đồng từ sáng sớm. Ngoài ngõ, chỉ có gió heo may thổi lá tre khô bay lạo xạo trên mặt đất.
Nhà bá hộ Lưu ở giữa làng, xây bằng gạch, lợp ngói đỏ, có tường bao quanh cao hơn đầu người lớn. Cổng nhà làm bằng gỗ lim, hai cánh dày như hai tấm phản. Nguyên đã đi ngang qua cái cổng ấy hàng trăm lần, nhưng chưa bước vào bao giờ.
Bên trong là một khoảng sân gạch rộng, quét sạch không còn một chiếc lá. Lúa nhà bá hộ đang phơi kín nửa sân, vàng óng dưới nắng sớm. Hai con chó vàng nằm dài dưới hiên, bụng tròn căng, thấy người lạ vào cũng chẳng buồn sủa, chỉ hé một mắt nhìn rồi lại nhắm.
Góc sân có ba cái bồ thóc đan bằng cót, cái nào cũng cao quá đầu người, phủ mái rạ bên trên cho khỏi mưa. Nguyên nhìn những cái bồ ấy. Bồ thóc nhà nó chỉ cao đến ngực nó, và từ hôm gặt về đến giờ vẫn chưa đổ đầy được một nửa.
Bà cụ bán nước vẫn hay bảo, thóc nhà bá hộ thì chuột ăn ba đời không hết. Giờ Nguyên mới hiểu bà nói thật.
Bá hộ Lưu ngồi trên sập gụ giữa nhà, tựa lưng vào cái gối xếp. Ông ta béo tốt, mặt tròn, da hồng hào, hai má chảy xệ. Nhìn ông ta là biết thằng Quý lớn lên sẽ trông thế nào. Ông ta mặc áo lụa màu tro, tay cầm cái quạt giấy phe phẩy, dù trời đã sang thu.
Bà bá ngồi ở chiếc ghế bên cạnh, người đẫy đà, cổ tay đeo đôi vòng bạc to bản, cứ cử động là kêu lách cách. Thằng Quý đứng sau lưng mẹ. Nó đã thay một cái áo cánh trắng mới tinh, vải còn cứng, nếp gấp còn hằn. Thấy Nguyên, nó nhếch mép.
Còn trên mặt sập, ngay trước mặt bá hộ, cái áo cánh trắng rách cổ hôm qua được trải ra phẳng phiu. Mảng cổ áo rách toạc vẫn còn dính vệt đất, nằm đó như một thứ tang vật trên công đường.
Mẹ cúi rạp người.
– Lạy ông bá, lạy bà bá.
Mẹ kéo tay Nguyên. Nguyên cúi đầu theo, nhưng không cúi thấp bằng mẹ.
– Chị Tráng đến rồi đấy à. – Bà bá cất tiếng trước, giọng ngọt như mía lùi. – Ngồi đi chị. À mà thôi, nhà tôi không có ghế thừa, chị chịu khó đứng vậy nhé.
Mẹ vẫn đứng. Mẹ vẫn đứng như thế từ đầu, chưa từng định ngồi.
– Tôi cũng chẳng muốn làm to chuyện đâu. – Bà bá nói tiếp, tay vuốt vuốt cái vòng bạc. – Trẻ con thì chúng nó xô đẩy nhau là thường. Nhưng mà chị xem đây này. – Bà ta chỉ vào cái áo trên sập. – Thằng Quý nhà tôi nó về, mặt mũi lấm lem, cổ áo rách tươm, khóc cả buổi. Tôi thì tôi thương nó, mà tôi cũng thương chị. Chị hiền lành thế, nuôi thêm cái miệng ăn chẳng biết cha mẹ từ đâu ra, lại còn phải khổ vì nó.
Nguyên đứng im. Nó cảm thấy bàn tay mẹ đang nắm cổ tay nó siết chặt hơn một chút.
Bá hộ Lưu phe phẩy quạt. Ông ta không nhìn mẹ, cũng không nhìn Nguyên. Ông ta nhìn cái áo.
– Áo này vải trắng mua tận thị trấn. – Bá hộ nói. Giọng ông ta chậm, không to, không gắt, nghe như đang bàn chuyện thời tiết. – Thợ may ở thị trấn may. Mới mặc được nửa tháng.
– Dạ…
– Ông quản.
Ông quản Tư bước lên, mở quyển sổ bìa vải ra, liếm ngón tay, lật mấy trang.
– Vải trắng, công may, cộng lại quy ra thóc là hai thúng đầy, bẩm ông.
Mẹ ngẩng phắt lên.
– Lạy ông bá… nhà tôi năm nay lúa lép, gặt về chưa được nửa bồ…
– Lúa lép thì cả làng lép. – Bá hộ nói. – Lúa nhà tôi cũng lép. Mà áo con tôi thì vẫn rách.
Ông ta gập quạt lại, gõ nhẹ xuống mặt sập.
– Còn một việc nữa. Tấm vải chị đang dệt cho nhà tôi, chị dệt đến đâu thì cắt đến đấy, đem trả lại sợi. Từ nay nhà tôi không dám thuê người nhà chị nữa.
Mẹ lặng người.
Nguyên biết việc dệt thuê cho nhà bá hộ có nghĩa là gì. Mùa nào thóc hết sớm, nhà nó sống được qua tháng ba là nhờ những đêm mẹ ngồi bên khung cửi đến khi gà gáy. Tiếng khung cửi lách cách mỗi đêm là tiếng của mấy bát gạo mẹ đổi về.
– Lạy ông bá. – Giọng mẹ run run. – Hay là… tôi dệt không công, trừ dần vào tiền áo. Ông bá cho tôi dệt nốt tấm này…
– Thôi chị ạ. – Bà bá cười. – Nhà tôi không dám. Để cái thằng ấy nó lảng vảng gần nhà tôi, lỡ hôm nào nó lại đánh thằng Quý nữa thì sao? Chị biết đấy, cái thứ không cha không mẹ, ai mà biết trong máu nó có cái gì.
Thằng Quý khịt mũi cười.
Mẹ quay sang Nguyên. Mẹ không nói gì, chỉ bấm mạnh vào cổ tay nó một cái. Móng tay mẹ cắm vào da, đau nhói. Nguyên hiểu mẹ muốn gì.
Nó nhìn thằng Quý. Thằng Quý đứng sau lưng mẹ nó, mặc áo mới, mặt tròn, má phính, không có lấy một vết sưng. Nó vênh mặt lên chờ.
Nguyên nhớ lại tiếng Bông khóc ré lên giữa đường. Nhớ lại cái đầu gối trầy rớm máu.
Tay trái nó đút trong túi áo, nắm chặt lấy chiếc lục lạc, chặt đến mức mép bạc hằn vào lòng bàn tay. Chiếc lục lạc không kêu. Ngón tay nó đã chặn kín khe hở.
Rồi nó quay sang bá hộ Lưu, cúi đầu xuống.
– Cháu xin lỗi ông bá.
Thằng Quý chờ thêm một câu nữa. Không có câu nào nữa.
Bá hộ Lưu nheo mắt nhìn Nguyên một lúc. Có lẽ ông ta cũng nhận ra thằng bé này vừa xin lỗi ai và không xin lỗi ai. Nhưng ông ta chỉ phe phẩy quạt, không nói gì. Một đứa trẻ nhà nghèo, chẳng đáng để ông ta bận tâm thêm.
– Về đi. – Bá hộ nói. – Bảo anh Tráng mang thóc sang trước rằm.
Lúc mẹ con Nguyên quay ra, Nguyên nghe thấy tiếng thằng Quý cười khe khẽ sau lưng. Nó không quay lại.
Về đến nhà, mẹ không mắng câu nào.
Nguyên đã chờ một trận mắng suốt đường về. Nó chờ mẹ khóc, chờ mẹ than, chờ mẹ nói con đánh con nhà bá hộ thì mẹ lấy đâu ra việc mà làm như hôm qua. Nhưng mẹ không nói gì cả. Mẹ đi thẳng vào gian trong, ngồi xuống bên khung cửi.
Trên khung cửi là tấm vải nâu dệt dở cho nhà bá hộ, đã được chừng gang tay. Mẹ nhìn nó một lúc. Rồi mẹ cầm con dao nhỏ lên, cắt từng sợi dọc.
Sợi đứt kêu phựt, phựt, nhỏ và khô. Mẹ cắt chậm, từng sợi một, như sợ làm đau tấm vải. Mỗi sợi đứt, mẹ lại thở ra một hơi rất khẽ.
Bông lon ton chạy vào, ngồi xuống cạnh mẹ. Nó nhìn tấm vải, nhìn con dao, nhìn mặt mẹ. Con bé không hiểu chuyện gì, nhưng nó biết có chuyện không hay.
– Sao mẹ cắt vải? – Bông hỏi.
– Vải của người ta. Mẹ trả người ta.
Bông im lặng một lúc. Rồi nó ngước lên, lí nhí:
– Tại thằng Quý mà.
Mẹ dừng tay. Mẹ đưa bàn tay chai sần lên xoa đầu Bông, nhưng không trả lời.
Nguyên đứng ngoài bậc cửa. Nó không bước vào. Từ chỗ nó đứng, nó chỉ thấy lưng mẹ, cái lưng gầy, hơi còng, và đôi vai cứ khẽ nhô lên rồi hạ xuống mỗi khi mẹ thở dài.
Nó muốn nói một câu gì đó. Rằng nó xin lỗi. Rằng hôm qua nó không nên lao vào thằng Quý. Nhưng nó biết nếu hôm qua có quay lại, nó vẫn sẽ lao vào. Nên nó không nói gì cả.
Nó ra sân, cầm chổi quét cái sân đất vốn đã sạch.
Gần trưa, cha về.
Ông vác cái cày trên vai, chân tập tễnh, mồ hôi chảy thành vệt trên lưng áo nâu. Vừa đặt cày xuống, ông đã thấy ngay có gì khác. Có lẽ là vì tiếng khung cửi. Trưa nào mẹ cũng tranh thủ dệt mấy đường trước khi nấu cơm. Hôm nay khung cửi im lìm.
– Có chuyện gì?
Mẹ kể. Mẹ kể chậm, nhỏ, không sót một chữ nào: ông quản đến, hai thúng thóc, việc dệt thuê, câu "không dám thuê nữa". Mẹ không kể câu bà bá nói về "cái thứ không cha không mẹ". Nhưng Nguyên thấy mẹ ngập ngừng ở chỗ ấy một nhịp, rồi mới nói tiếp.
Cha nghe hết. Ông không chửi. Nguyên đã đứng sẵn ở góc sân, chờ cha chửi trời chửi đất như lúc thấy lúa lép, chờ cha quay sang quát nó. Nhưng cha không làm gì cả. Ông chỉ đứng đó, hai bàn tay to bè buông thõng, mắt nhìn xuống đất.
Rồi ông đi ra góc sân, chỗ cái bồ thóc.
Ông cầm cái thúng lên, mở nắp bồ, xúc. Tiếng thóc chảy vào thúng rào rào, nghe như mưa rơi trên mái rạ. Thúng thứ nhất đầy. Ông đặt xuống, cầm cái thúng thứ hai.
Mẹ chạy ra, níu lấy tay cha.
– Ông ơi… – Giọng mẹ nghẹn lại. – Thóc ấy là để…
Cha không gỡ tay mẹ ra. Ông chỉ nhìn mẹ một cái.
– Không nợ ai. – Ông nói.
Mẹ buông tay.
Cha xúc đầy thúng thứ hai, gạt bằng miệng thúng. Ông lấy đòn gánh, móc quang vào hai thúng, rồi quay sang nhìn Nguyên lần đầu tiên từ lúc về nhà.
– Mày. Đi theo.
Lần thứ hai trong ngày, Nguyên bước qua cánh cổng gỗ lim nhà bá hộ.
Lần này nó đi sau lưng cha. Cha gánh hai thúng thóc, đòn gánh cong oằn trên vai. Ông bước tập tễnh, nhưng không chậm. Đến giữa sân gạch, ông dừng lại, hạ gánh xuống.
Ông quản Tư từ trong nhà bước ra, quyển sổ vẫn kẹp dưới nách.
– Anh Tráng đấy à. Nhanh nhỉ. Ông bá bảo trước rằm cơ mà.
Cha không trả lời. Ông nghiêng thúng thứ nhất, đổ ào xuống mặt sân gạch. Rồi thúng thứ hai. Thóc tràn ra thành một đống vàng, mấy hạt văng tới tận chân ông quản.
Bá hộ Lưu đi ra hiên, tay cầm quạt. Ông ta nhìn đống thóc, rồi nhìn cha.
– Anh Tráng làm gì mà vội thế?
Cha đứng thẳng lưng. Nguyên chưa bao giờ thấy cha đứng thẳng như thế. Cái lưng vẫn còng xuống mỗi khi gánh lúa, giờ thẳng lên, vai rộng ra. Ông không cúi đầu, không chắp tay, không nói lạy ông bá.
– Áo con ông, tôi đền đủ. – Cha nói, chậm và rõ, nhìn thẳng vào mặt bá hộ. – Từ nay thằng Nguyên với con ông không ai nợ ai.
Bá hộ Lưu không nói gì. Hai người đàn ông nhìn nhau một lúc. Hai con chó vàng dưới hiên ngóc đầu dậy, nhìn sang.
Rồi cha cầm đòn gánh lên, quay đi.
– Về.
Nguyên đi theo. Lúc bước qua cổng, nó ngoái lại một lần. Ông quản Tư đang cúi xuống, lấy tay vun đống thóc lại, miệng lẩm bẩm gì đó. Thằng Quý đứng ở cửa, mặt ngẩn ra, không cười nữa.
Cha không đi đường làng mà đi tắt qua bờ ruộng. Nguyên lẽo đẽo theo sau. Hai thúng rỗng đung đưa trên đòn gánh, lắc lư theo nhịp chân tập tễnh của cha.
Ruộng đã gặt xong, chỉ còn trơ gốc rạ. Mấy con cò trắng lững thững đi kiếm ăn trên những thửa ruộng vừa cày. Gió heo may thổi ngang mặt, lành lạnh.
Đi được nửa đường, cha bỗng nói, không quay lại:
– Mày đánh, tao đền. Thế là xong.
Nguyên ngẩng lên nhìn lưng cha.
– Con…
– Không phải nói nữa. – Cha cắt ngang. – Xong rồi thì thôi.
Hai cha con lại đi trong im lặng. Một con cò vỗ cánh bay lên, trắng toát trên nền trời xanh nhạt.
Một lúc lâu sau, cha lại nói. Giọng ông chậm hơn, nhỏ hơn, như đang kể cho chính mình nghe.
– Hồi tao mười tám đôi mươi, tao cũng lên thị trấn học võ.
Nguyên suýt vấp vào một gốc rạ.
– Cha học võ ạ?
– Học được nửa năm. – Cha nói. – Võ quán ở đầu chợ thị trấn. Sáng nào cũng đứng tấn, đấm bao cát, gánh nước lên dốc. Sau hết tiền nộp cho thầy thì về. – Ông khịt mũi. – Đấm được cái bao cát thì có ăn được đâu.
Nguyên muốn hỏi thêm. Cha học được những gì, võ quán ấy thế nào, thầy dạy ra sao, có giỏi như người ta kể không. Nhưng cha đã im rồi. Nó biết cha không nói thêm nữa đâu.
Đến chỗ bờ ruộng đầu làng, cha dừng lại, đặt gánh xuống, đưa tay lau mồ hôi trên trán. Rồi ông ngẩng lên.
Ông lại nhìn về phía núi.
Vân Lĩnh giữa trưa sáng rực. Mây trắng tan bớt, để lộ những sườn rừng xanh thẫm, xanh mướt như đang giữa mùa xuân. Cha nhìn đỉnh núi ấy, lâu như chiều hôm trước. Nhưng lần này Nguyên không hỏi cha nhìn gì nữa.
Nó chỉ đứng cạnh cha, cùng nhìn lên.
Bữa tối hôm ấy là cháo.
Cháo loãng, nấu từ một nắm gạo với mấy củ khoai thái nhỏ, có thêm nắm rau má mẹ hái ngoài bờ ao. Không ai hỏi vì sao không có cơm. Bông húp xì xụp, rồi hỏi mẹ có còn khoai nướng không. Mẹ bảo hết rồi.
Đêm xuống. Nguyên nằm cạnh Bông trên chõng. Bông ngủ ngay, như mọi đêm. Nguyên thì không ngủ được.
Nó nằm im, mắt nhắm, thở đều, giả như đang ngủ. Bên ngoài, nó nghe tiếng cha mẹ khẽ nói gì đó ngoài hiên. Rồi tiếng nắp bồ thóc mở ra. Tiếng bàn tay ai đó khoắng vào trong, đo đo, đếm đếm.
– Còn bao nhiêu? – Tiếng cha.
Mẹ im lặng một lúc lâu.
– Chỉ đủ đến ra Giêng. – Mẹ nói. – Ăn dè thì được đến rằm tháng Giêng.
Cha không nói gì.
– Tôi đi mò cua bắt ốc. – Mẹ nói tiếp, nhỏ như tiếng muỗi. – Đi nhặt rau. Thế nào cũng sống được. Năm nào chả vậy.
– Năm nào cũng vậy thì đã chẳng ai chết đói. – Cha nói.
Mẹ không đáp.
Một lúc sau, tiếng nắp bồ đóng lại. Tiếng chân mẹ đi vào gian bên. Tiếng chân cha thì không.
Nguyên mở mắt.
Qua khe vách nứa, nó thấy cha ngồi một mình trên bậc thềm. Trăng đêm nay tròn hơn hôm qua, sáng vằng vặc, chiếu lên tấm lưng còng của cha. Cạnh chân cha là cái be sành nhỏ mà nhà vẫn cất trên gác bếp, thứ chỉ được mang xuống vào ngày giỗ, ngày Tết. Cha nghiêng be, rót ra một cái chén mẻ. Ông uống một hơi. Rồi rót chén nữa.
Nguyên chưa thấy cha uống rượu một mình bao giờ.
Nó luồn tay xuống dưới manh chiếu, tìm thấy chiếc lục lạc, nắm lấy. Mặt bạc mát lạnh trong lòng bàn tay. Nó nghĩ đến hai thúng thóc đổ ào trên sân gạch nhà bá hộ. Nghĩ đến tiếng khung cửi im lìm. Nghĩ đến bát cháo loãng của Bông.
Tất cả là vì nó.
Nó nằm im trong bóng tối, mắt mở thao láo.
Ngoài hiên, có tiếng cha đặt chén rượu xuống thềm. Cộc. Tiếng chén chạm đá rất khẽ, giống như tiếng đũa chạm vào thành bát hôm cha gắp cho nó con cá khô cuối cùng.
Rồi giọng cha vang lên, rất khẽ, như nói với chính mình:
– Năm nay giáp hạt dài lắm.