Chương 4: Giáp hạt
Đầu đông, nước ruộng lạnh như cắt.
Mẹ xắn quần lên quá gối, lội xuống thửa ruộng trũng cuối làng. Bùn ngập đến bắp chân. Mẹ cúi lom khom, hai tay thọc xuống bùn, lần dọc theo bờ đất, chỗ cua hay đào hang. Được một lúc, mẹ rút tay lên, trong tay là một con cua đồng nhỏ bằng hai ngón tay, đang giương càng. Mẹ thả nó vào cái giỏ tre đeo bên hông, rồi lại cúi xuống.
Nguyên lội theo sau. Nước lạnh ngấm vào da, buốt lên tận đầu gối, buốt đến mức hai cẳng chân chỉ còn thấy tê tê như không phải chân mình. Nó cắn răng, không kêu.
Mò cua cũng phải có mẹo. Cua đồng đào hang ở bờ đất, miệng hang tròn, có bùn mới đùn ra. Thọc tay vào phải thọc nhanh và chắc, bóp lấy mai cua trước khi nó kịp giương càng kẹp. Nguyên học được mẹo ấy từ năm lên sáu, và tay nó nhanh hơn tay mẹ. Nửa buổi sáng, giỏ của nó đã lưng lửng, còn giỏ của mẹ mới được vài con.
– Con bắt giỏi hơn mẹ rồi. – Mẹ nói, cười, nhưng môi đã tím tái.
– Mẹ lên bờ đi. Con mò nốt.
– Mẹ không sao.
Mẹ lại cúi xuống. Nguyên nhìn hai bàn tay mẹ thò lên từ mặt nước đục ngầu, tím ngắt, những ngón tay sưng phồng lên vì lạnh. Hai bàn tay ấy ngày xưa đêm nào cũng đưa thoi trên khung cửi. Giờ khung cửi bỏ không, mẹ đem tay xuống ruộng.
Nó cúi xuống, mò nhanh hơn.
Lúc mẹ con lên bờ, mẹ cúi xuống rửa chân ở mương. Nguyên đứng sau lưng mẹ, lặng lẽ bốc mấy nắm cua trong giỏ của mình, thả sang giỏ của mẹ. Cua bò lạo xạo trong giỏ tre. Mẹ nghe thấy. Mẹ không quay lại, cũng không nói gì. Chỉ có đôi vai gầy khẽ run lên một cái, chẳng rõ vì lạnh hay vì cái gì khác.
Ruộng bên cạnh cũng có người. Ruộng bên kia cũng có. Cả cánh đồng cuối làng, chỗ nào còn nước là chỗ ấy có người lội. Đàn bà, trẻ con, có cả mấy ông già. Người ta mò cua, bắt ốc, vớt tép, nhặt cả những con ốc bươu bé tí trước kia chẳng ai thèm lấy. Không ai nói với ai câu nào. Chỉ nghe tiếng nước lõm bõm, tiếng ho khan, và tiếng gió heo may rít qua gốc rạ.
Lúc lên bờ, ông cụ hàng xóm đang ngồi nghỉ, hai tay ôm đầu gối. Giỏ của ông chỉ có dăm con ốc.
– Nhà Cả Thìn xóm dưới bỏ làng đi rồi đấy, chị Tráng ạ. – Ông cụ nói. – Đi hôm kia. Cả nhà dắt nhau đi, bảo xuống miền xuôi kiếm ăn. Nhà khóa cửa, vườn bỏ hoang.
Mẹ không nói gì. Mẹ chỉ thở dài.
– Nhà lão Hai đầu xóm thì đào củ chuối ăn từ tháng trước. – Ông cụ nói tiếp. – Mới đầu đông đã đào củ chuối. Ra Giêng thì lấy gì mà ăn.
Nguyên ôm giỏ cua, đứng nghe. Nó ngẩng lên nhìn về phía núi. Vân Lĩnh vẫn xanh. Mùa đông rồi mà rừng trên kia vẫn xanh, xanh như chẳng biết gì về cái đói ở dưới này.
Hôm ấy, nồi cháo nhà Nguyên có thêm cua giã lọc lấy nước. Bông húp một hơi hết bát, liếm cả thành bát, rồi ngẩng lên hỏi:
– Mai anh lại đi mò cua nữa nhé?
– Ừ.
Con bé cười. Nhưng hai má phúng phính hồi mùa gặt đã hóp lại, và cái cằm nhọn ra. Nguyên nhìn em cười mà không cười theo được.
Tết năm ấy đến lặng lẽ.
Mẹ dành dụm được một bơ gạo nếp, đỗ xanh thì xin của bà cụ bán nước một nắm, thịt thì không có. Mẹ gói được bốn chiếc bánh chưng, chiếc nào cũng bé bằng nắm tay, lá dong gói vụng vì gạo ít quá, bó mãi không vuông. Nồi bánh luộc trên bếp củi từ chiều ba mươi đến khuya. Bông ngồi canh bên bếp, ngủ gật mấy lần, cứ giật mình dậy lại hỏi:
– Chín chưa hả mẹ?
Bên kia làng, nhà bá hộ Lưu đốt pháo. Tiếng pháo nổ đì đùng, giòn giã, vọng qua mấy lũy tre. Khói pháo bay lên trắng một góc trời. Bông chạy ra ngõ đứng xem, mắt sáng lên.
– Anh ơi, pháo kìa!
Nguyên đứng sau lưng em. Nó không nhìn khói pháo. Nó nhìn ra phía nhà bá hộ, nghĩ đến ba cái bồ thóc cao quá đầu người.
Đêm giao thừa, cha thắp hương lên bàn thờ. Bàn thờ nhà Nguyên chỉ là một tấm ván kê trên vách, có cái bát hương sành, một đĩa ba quả quýt mẹ đổi được ở chợ, và chiếc bánh chưng to nhất trong bốn chiếc. Cha đứng trước bàn thờ, chắp tay, khấn rất lâu. Ông khấn lầm rầm trong miệng, Nguyên không nghe rõ hết. Chỉ nghe được mấy chữ cuối, khi giọng cha to lên một chút:
– …phù hộ cho hai đứa nhỏ nhà con được ăn no.
Hai đứa.
Nguyên đứng ở góc nhà, nhìn lưng cha. Khói hương bay lên, cay mắt.
Sáng mùng một, mẹ bóc bánh. Mỗi người được nửa chiếc. Bông ăn xong nửa của mình, mắt cứ nhìn sang nửa chiếc bánh trong tay anh. Con bé không đòi. Từ hôm mùa gặt đến giờ, Bông đã học được cách không đòi.
Nguyên đặt nửa chiếc bánh vào tay em.
– Anh no rồi.
Bông ngước lên nhìn anh, rồi nhìn mẹ. Mẹ quay đi chỗ khác.
– Qua Tết con lên chín rồi đấy. – Mẹ nói, giọng nhỏ. – Lớn rồi.
Mẹ nói như chỉ để nói một câu gì đó cho có. Nhưng Nguyên nghe ra trong câu ấy có cái gì đó khác, như mẹ đang xin lỗi nó.
Ra Giêng, đáy bồ thóc lộ ra.
Nguyên biết ngày ấy sẽ đến. Cả nhà đều biết. Nhưng biết trước không có nghĩa là đỡ khổ hơn. Sáng hôm ấy, mẹ cúi người thật sâu vào trong bồ, xúc mãi, xúc mãi, cái gáo dừa cạ vào đáy cót sột soạt. Mẹ đứng thẳng dậy, trong gáo chỉ có lưng lửng một gáo thóc lẫn trấu.
Từ hôm ấy, bữa ăn trong nhà là cháo cám. Cám là thứ mẹ vẫn để dành cho con lợn, nhưng con lợn đã bán từ trước Tết. Cám nấu với rau má, rau má hết thì rau dền dại, rau dền hết thì củ chuối. Củ chuối thái mỏng, luộc đi luộc lại mấy nước cho bớt chát, ăn vào vẫn chát xít đầu lưỡi, nuốt xuống thì nghẹn ở cổ.
Cha lên núi đốn củi mỗi ngày.
Không phải sườn núi gần làng nữa, vì củi ở đó đã bị người ta đốn hết. Cha đi xa hơn, lên cao hơn, tờ mờ sáng đi, tối mịt mới về. Củi đốn được, cha gánh đi bán ở chợ phiên các làng bên, có hôm đi tận Bến Gỗ, cái thị trấn ven sông Cái cách làng nửa ngày đường. Có hôm bán được, cha mang về một bơ gạo. Có hôm không bán được, cha gánh củi về, ném xuống góc sân, không nói một lời.
Cái chân trái của cha tập tễnh nặng hơn. Tối nào cha cũng ngồi trên bậc thềm, xoa bóp đầu gối, mặt nhăn lại mà không kêu. Có một tối, Nguyên thấy cha cầm cái be sành lên, lắc lắc. Không có tiếng nước óc ách. Cha nhìn cái be một lúc, rồi đặt nó xuống, quay mặt nhìn về phía núi.
Một đêm, Bông khóc.
Con bé không khóc to. Nó chỉ thút thít, nhỏ nhỏ, đều đều, như con mèo con bị bỏ quên ngoài trời mưa.
– Mẹ ơi… Bông đói…
Mẹ ngồi dậy, ôm Bông vào lòng. Mẹ không có gì để cho con ăn. Mẹ chỉ ôm, vỗ vỗ lưng con, rồi hát ru. Giọng mẹ khàn đi vì gió lạnh ngoài ruộng, câu hát cứ đứt quãng, chẳng ra giai điệu gì:
Con ơi con ngủ cho ngoan…
Bông thút thít một lúc lâu rồi mới thiếp đi trong lòng mẹ. Mẹ vẫn ngồi đó, không đặt con xuống, cứ thế đung đưa, đung đưa trong bóng tối.
Đêm ấy, Nguyên không ngủ.
Nó nằm im, nghe tiếng mẹ ru rồi tắt. Nghe tiếng thở đều đều của Bông. Nghe tiếng chuột chạy trên gác bếp, bới mãi chẳng thấy gì. Nghe bụng mình sôi lên òng ọc.
Nó luồn tay xuống dưới manh chiếu, lấy chiếc lục lạc ra.
Ánh trăng đêm nay mờ mờ, chỉ lọt qua khe vách được một vệt mảnh. Nguyên đưa chiếc lục lạc vào vệt sáng ấy. Mặt bạc vẫn nhẵn, vẫn ánh lên như hôm ở bờ ao. Vầng trăng khuyết, mấy đường sóng.
Bạc.
Nó biết bạc là thứ quý. Đôi vòng bạc trên cổ tay bà bá, bà ta xoay đi xoay lại cho ai cũng nhìn thấy. Ở chợ phiên, người ta đổi một đồng bạc lấy cả thúng gạo. Chiếc lục lạc này nhỏ, nhưng cũng là bạc. Cầm lên thị trấn, có khi đổi được dăm bơ gạo. Dăm bơ gạo, đủ cho Bông ăn cơm trắng mấy ngày liền.
Nguyên nắm chặt chiếc lục lạc trong tay.
Nó nghĩ đến con bé ở bờ ao. Đến cái lưỡi thè ra trêu nó từ sau rèm tre. Đến đôi bàn tay bé xíu loay hoay mãi mới tháo được nút dây. Đổi đấy. Đến đôi mắt cong cong như vầng trăng khuyết.
Con bé không cho nó cái lục lạc để nó mang đi đổi gạo.
Nó nằm như thế rất lâu, nắm tay siết chặt đến tê dại. Ngoài kia gà gáy canh hai. Rồi canh ba.
Cuối cùng, nó mở tay ra, nhét chiếc lục lạc trở lại dưới chiếu, sát mép chõng.
Không bán.
Nhưng phải có gạo. Nếu không bán thì phải kiếm được gạo bằng cách khác. Bằng tay nó.
Hôm sau, Nguyên ra quán nước gốc đa.
Nó không ra để uống nước. Nhà nó chẳng còn đồng nào mà uống nước. Nó ra vì quán nước là nơi người ta kể chuyện, và nó cần nghe chuyện. Ở đâu có việc làm, ai cần người, chỗ nào trả công bằng gạo.
Bà cụ bán nước đang ngồi trong quán, quấn khăn kín cổ, cái muôi gáo dừa để trên miệng nồi nước chè. Quán vắng hoe. Mùa đói, người ta chẳng còn tiền mua chè.
– Thằng Nguyên đấy à? – Bà cụ nheo mắt. – Ra đây làm gì? Bà chẳng còn bánh đa mà cho đâu.
– Cháu không xin bánh. – Nguyên đứng ở cửa quán. – Cháu hỏi bà… ở đâu người ta thuê người làm không ạ?
Bà cụ nhìn nó một lúc lâu. Từ đầu đến chân. Rồi từ chân lên đầu.
– Cháu bao nhiêu tuổi?
– Chín.
– Chín. – Bà cụ chặc lưỡi. – Ai thuê đứa chín tuổi.
Nguyên không đáp. Nó vẫn đứng đó, không đi.
Bà cụ cầm cái muôi khuấy khuấy nồi nước chè đã nguội. Một lúc sau, bà nói, không nhìn nó:
– Bà có đứa cháu mở quán cơm dưới Bến Gỗ. Quán ở gần chợ, gần bến bè, người ra vào cả ngày. Tết vừa rồi nó về, bảo đứa trẻ rửa bát cho nó vừa bỏ đi theo bè gỗ xuống xuôi, giờ đang cần đứa khác. Không có công đâu. Chỉ có cơm ngày hai bữa, chỗ ngủ dưới gầm bếp. Tháng được vài đồng là may. Rằm thì cho về thăm nhà.
Nguyên mở to mắt.
– Bà… bà nói giúp cháu được không ạ?
– Nói thì nói được. – Bà cụ đặt cái muôi xuống. – Nhưng mà cha mẹ cháu có cho không, thì bà không biết.
Tối hôm ấy, bữa cháo cám vừa xong, Nguyên nói.
Nó nói ngắn gọn, đúng như những gì bà cụ bán nước kể. Quán cơm ở Bến Gỗ. Rửa bát. Cơm ngày hai bữa. Rằm thì về.
Cả nhà im lặng.
Mẹ không nói gì cả. Mẹ chỉ khóc. Nước mắt cứ thế chảy xuống, mẹ đưa vạt áo lên lau, lau xong lại chảy.
Cha đặt cái bát xuống chõng, mạnh đến mức bát kêu cạch một tiếng.
– Mày bé tí. – Cha nói. Giọng ông khàn đi. – Mày đi làm thuê cho ai? Người ta nhìn mày, người ta cười vào mặt.
– Bà cụ bán nước nói giúp con rồi.
– Bà ấy nói thì bà ấy nói. – Cha quát. – Tao chưa cho.
Bông ngồi giữa, nhìn cha, nhìn mẹ, nhìn anh, đôi mắt một mí mở to, không hiểu chuyện gì nhưng sợ hãi.
– Anh đi đâu? – Con bé hỏi. Không ai trả lời nó.
Nguyên cúi đầu. Hai tay đặt trên đầu gối, nắm lại. Giống như cái hôm ở mâm cơm trưa ngày mùa gặt.
Rồi nó ngẩng lên, nhìn thẳng vào cha.
– Con đi thì nhà bớt một miệng ăn.
Cả nhà lặng đi.
Mẹ nấc lên một tiếng rồi bưng miệng lại. Bông nhìn anh, rồi bật khóc, dù chẳng hiểu vì sao mình khóc.
Còn cha thì không nói gì. Ông nhìn Nguyên, nhìn rất lâu, lâu đến mức Nguyên tưởng cha sắp vung tay tát mình. Gương mặt ông cứng lại, hai hàm răng nghiến chặt, quai hàm bạnh ra. Nhưng trong đôi mắt hay nheo vì nắng ấy, có một cái gì đó vỡ ra, rất nhanh, rồi lại khép lại.
Nuôi mày tốn cơm. Câu ấy cha nói từ hồi mùa gặt. Có lẽ cha cũng vừa nghe thấy nó.
Cha đứng dậy. Ông không nói một lời nào, quay lưng đi ra hiên. Tiếng chân tập tễnh xa dần, rồi dừng lại ở bậc thềm.
Đêm ấy, Nguyên nằm nghe ngóng mãi. Không có tiếng cha vào nhà. Không có tiếng rót rượu, vì be rượu đã cạn từ lâu. Chỉ có tiếng gió lạnh thổi qua hiên, và tiếng điếu cày lâu lâu lại kêu sòng sọc một hồi, rồi im.
Nó thiếp đi lúc nào không biết.
Có ai lay vai nó.
Nguyên mở mắt. Trời vẫn còn tối. Ngoài khe vách, chưa có một vệt sáng nào. Gà mới gáy lần đầu.
Cha đứng bên chõng. Ông đã mặc áo ngoài, quấn khăn kín đầu. Trong bóng tối, Nguyên chỉ thấy được cái dáng to, vai rộng mà còng.
– Dậy.
Nguyên ngồi dậy. Nó khẽ khàng rút chân ra khỏi chăn, cho Bông khỏi thức. Rồi nó luồn tay xuống dưới manh chiếu, lấy chiếc lục lạc, nhét vào túi áo trong.
Nó theo cha ra sân.
Sương đêm lạnh buốt. Giữa sân, dưới ánh sao mờ, có hai gánh củi đã buộc sẵn. Một gánh to, củi chất cao ngất trên đôi quang gánh của cha. Một gánh nhỏ, củi bó gọn gàng, vừa sức một đứa trẻ, buộc trên đôi quang gánh tre đực cha đẽo cho nó năm lên sáu.
Nguyên đứng nhìn hai gánh củi.
Cánh cửa sau lưng nó kẹt khẽ. Mẹ đứng ở bậc cửa, tóc chưa vấn, khăn khoác vội trên vai. Mắt mẹ sưng mọng. Có lẽ cả đêm mẹ cũng không ngủ.
Mẹ bước xuống sân, dúi vào tay nó một gói lá chuối nhỏ. Gói lá còn ấm. Bên trong là một củ khoai luộc, củ khoai cuối cùng trong nhà, Nguyên biết thế.
– Để dành. – Mẹ thì thầm, giọng nghẹn lại. – Đi đường mà đói.
Nguyên nhìn mẹ. Nó muốn nói thế còn mẹ, như hôm ở cầu ao ngày mùa gặt. Nhưng nó biết mẹ sẽ lại bảo mẹ ăn rồi. Nên nó chỉ gật đầu, cất củ khoai vào túi áo, cạnh chiếc lục lạc.
Cha không nhìn nó. Ông cúi xuống, đặt đòn gánh lên vai, đứng thẳng dậy, hai bó củi đung đưa ở hai đầu đòn gánh. Rồi ông nói, giọng khàn khàn trong sương sớm, ngắn như mọi lần:
– Đi với tao.