Lạc Hồng Tiên Lộ

Chương 5: Bến Gỗ

Con đường lên Bến Gỗ chạy dọc theo đê sông Cái.

Lúc hai cha con ra khỏi làng, trời vẫn còn tối. Sương đêm đặc quánh, trắng đục như nước vo gạo, phủ kín mặt đê. Nguyên chỉ thấy được cái lưng cha đi trước, lúc mờ lúc rõ, và hai bó củi to đung đưa ở hai đầu đòn gánh. Nó bước theo cái lưng ấy. Cha đi đâu, nó đi đấy.

Đường đê lổn nhổn đá. Gánh củi của Nguyên không nặng, cha đã bó vừa sức nó, nhưng đi được một quãng thì đòn gánh bắt đầu cứa vào vai. Nó đổi vai. Đi một quãng nữa, vai bên kia cũng rát. Nó lại đổi. Đến lúc trời hửng sáng, cả hai bên vai đều nóng ran như có ai đặt hòn than lên.

Nó không kêu. Nó cắn răng, cúi đầu, cố bước cho kịp cha.

Một lúc sau, nó nhận ra mình không còn phải cố nữa. Cái lưng cha phía trước không xa ra. Cha đã đi chậm lại từ lúc nào chẳng biết. Ông không quay lại, không hỏi nó có mệt không, chỉ bước chậm hơn, và mỗi khi Nguyên tụt lại vài bước, ông lại dừng chân, giả như để sửa lại dây buộc củi.

Mặt trời lên. Sương tan dần. Sông Cái hiện ra bên tay trái, nước đục màu phù sa, chảy chậm và rộng, rộng đến mức Nguyên phải nheo mắt mới thấy được bờ bên kia.

Đến một gốc gạo già mọc trên mặt đê, cha hạ gánh xuống.

– Nghỉ.

Nguyên đặt gánh xuống, ngồi phịch xuống rễ cây. Nó rút gói lá chuối trong túi áo ra. Củ khoai luộc đã nguội, hơi dẹt đi vì bị nó ôm sát người suốt dọc đường. Nó bẻ đôi củ khoai, chìa một nửa về phía cha.

– Cha ăn đi.

Cha đang cởi khăn lau mồ hôi, liếc nhìn nửa củ khoai.

– Tao không đói.

Nguyên vẫn chìa ra. Tay nó không rụt lại.

Cha nhìn nó. Nó nhìn cha. Một con cò bay ngang qua mặt sông, kêu lên một tiếng khàn khàn.

Cuối cùng cha giơ tay cầm lấy nửa củ khoai. Ông cắn một miếng, nhai chậm, mắt nhìn ra sông.

– Mẹ mày luộc khoai không bao giờ chín đều. – Ông nói. – Đầu này bở, đầu kia sượng.

Nguyên cắn một miếng nửa của mình. Đầu này bở thật. Nó cắn sang đầu kia. Sượng thật.

Nó bật cười. Cha không cười, nhưng khóe miệng ông giật nhẹ một cái.


Gần trưa thì đến Bến Gỗ.

Nguyên đã nghe người làng kể về thị trấn nhiều lần. Nhưng nghe kể là một chuyện, tận mắt thấy lại là chuyện khác.

Trước tiên là con sông. Đến đây sông Cái lượn một khúc rộng, nước chảy chậm hẳn lại. Dọc bờ sông, những bè gỗ nằm san sát nhau, bè nào cũng dài như cả một dãy nhà. Gỗ là những thân cây to, tròn, xếp thẳng hàng, buộc chặt vào nhau bằng dây mây, vỏ cây còn xanh rêu. Trên mỗi bè có người đứng, tay cầm sào tre dài, chống xuống lòng sông, đẩy bè dạt vào bờ. Họ hò nhau bằng những câu hò Nguyên chưa nghe bao giờ, giọng kéo dài, vang xa trên mặt nước.

Rồi đến cái chợ. Chợ Bến Gỗ không họp theo phiên như chợ làng, mà họp cả ngày, ngày nào cũng họp. Người đông như kiến. Người gánh, người đẩy xe, người khuân vác, người ngồi bán. Gánh rau, gánh cá, thúng gạo, mẹt bánh, những xấp vải đủ màu treo lủng lẳng. Có người bán chiếu cói, có người bán nồi đất, có ông lão ngồi một góc bán những con giống nặn bằng bột màu. Tiếng rao, tiếng mặc cả, tiếng chó sủa, tiếng gà vịt kêu, tiếng trẻ con khóc, tất cả trộn vào nhau thành một thứ tiếng ồn ào không dứt.

Và mùi. Mùi cá kho từ quán ven đường. Mùi bánh đúc nóng trên mẹt. Mùi mắm, mùi bùn sông, mùi gỗ tươi mới xẻ. Mùi thơm của nồi cơm trắng vừa chín ở đâu đó.

Bụng Nguyên réo lên. Nó nuốt nước bọt.

Nhà cửa ở đây cũng khác. Nhà nào cũng lợp ngói, có nhà còn hai tầng, gác gỗ chìa ra trên phố. Không có nhà nào vách nứa trát bùn như nhà nó.

Nguyên đi giữa chợ, mắt mở thao láo, quay bên này nhìn, quay bên kia nhìn, suýt nữa thì đâm sầm vào một người đàn ông đang gánh hai sọt cá.

– Nhìn đường! – Người kia quát.

– Đi sát vào tao. – Cha nói, không quay lại.

Nguyên đi sát vào cha.

Cha đưa nó đến một góc chợ, chỗ người ta bán củi. Ông đặt hai gánh củi xuống. Chẳng bao lâu có một bà béo đến hỏi giá. Cha nói giá. Bà ta lắc đầu, trả thấp hơn. Cha nhíu mày, nói lại giá cũ, giọng cộc lốc như đang cãi nhau. Bà ta trả cao hơn một chút. Cha im lặng, quay mặt đi chỗ khác. Bà ta lại trả cao thêm một chút nữa.

– Được. – Cha nói.

Bà ta đếm tiền, từng đồng một, đặt vào lòng bàn tay chai sần của cha. Cha nắm lại, cất vào trong ruột tượng buộc ở thắt lưng.

Nguyên đứng nhìn, không hiểu sao cha cộc cằn thế mà vẫn bán được. Có lẽ vì củi của cha là củi tốt. Củi khô, củi to, bó chặt, không lẫn một cành tươi nào.


Quán cơm của cô Mận ở đầu chợ, gần cổng chợ phía bắc. Cha dẫn nó đi qua một dãy phố, rồi rẽ vào một con đường lát đá dẫn lên đầu chợ.

Và cha dừng lại.

Bên đường có một cái cổng gỗ. Cổng không to bằng cổng nhà bá hộ Lưu, nhưng cao hơn, cũ hơn. Gỗ đã bạc màu vì mưa nắng, chân cột mòn vẹt. Phía trên cổng có treo một tấm biển gỗ sơn đen, trên mặt biển khắc mấy chữ lớn, thếp vàng, nét chữ vuông vức như những nhát dao.

Nguyên đứng ngẩn ra nhìn tấm biển.

Nó không đọc được.

Những nét chữ ấy, nét ngang, nét sổ, nét móc, nét phẩy, xếp chồng lên nhau, đan vào nhau, như một bức tranh mà nó không hiểu vẽ cái gì. Cả làng Chân Mây chỉ có ông đồ đọc được chữ. Nhà nó chưa có ai cầm đến quyển sách bao giờ.

Từ bên trong cổng vọng ra tiếng hô.

– Hây!

Một tiếng. Rồi một tiếng nữa. Đều đặn. Nhiều người cùng hô, giọng trầm và chắc, như tiếng búa nện xuống đất.

– Hây! Hây!

Cha đứng im trước cổng. Ông không bước vào, cũng không nhìn tấm biển. Ông nhìn qua khe cổng hé mở, nhìn vào bên trong, chỗ tiếng hô vọng ra.

Nguyên ngẩng lên nhìn cha.

Nó chưa thấy gương mặt cha như thế bao giờ. Không phải vẻ mặt cau có lúc thấy lúa lép. Không phải vẻ mặt lặng lẽ lúc nhìn núi. Đôi mắt hay nheo vì nắng ấy mở to hơn bình thường, và có một thứ gì đó trong đó, như ánh lửa trong bếp đã tàn mà vẫn còn hồng.

– Đấy. – Cha nói.

Chỉ một chữ. Rồi ông quay đi.

Nguyên ngoái lại nhìn cái cổng gỗ một lần nữa, nhìn tấm biển có những chữ nó không đọc được, rồi chạy theo cha.


Quán cơm của cô Mận nằm ngay sát vách võ quán, đi thêm mươi bước là đến. Quán có ba gian, mái ngói, phía trước kê mấy cái bàn gỗ thấp với ghế đẩu cho khách ngồi, phía sau là gian bếp. Khách ra vào nườm nượp: người khuân vác ở bến, người chống bè, người đi chợ.

Cô Mận đang đứng giữa quán, một tay bưng mâm cơm, tay kia chống hông, quát một thằng bé đang lúi húi lau bàn:

– Lau thế mà gọi là lau à? Bàn còn dính mỡ kìa!

Cô là một người đàn bà to cao, áo nâu xắn tay, tóc vấn khăn mỏ quạ. Giọng cô sang sảng, át cả tiếng ồn ngoài chợ. Thấy cha, cô đặt mâm cơm xuống bàn khách rồi bước ra.

– Anh Tráng đấy à? Bà tôi nhắn rồi. – Cô quay sang Nguyên, nhìn nó từ đầu xuống chân. – Thằng này đấy hả?

– Vâng. – Cha nói.

Cô Mận đi vòng quanh Nguyên một vòng, như người đi chợ ngắm con gà. Cô cầm cổ tay nó lên, bóp bóp. Rồi cô chặc lưỡi.

– Bé thế này thì rửa được mấy chồng bát? Gầy như con mắm. Tay chân như que tre.

Nguyên đứng thẳng lưng, không cúi đầu.

– Cháu rửa được.

– Rửa được? – Cô Mận nhướng mày. – Quán tao ngày bán mấy trăm bát cơm đấy con ạ. Mày rửa đến khuya cũng chẳng xong.

Nguyên không biết đáp thế nào.

Rồi cha làm một việc mà Nguyên không bao giờ quên.

Cha cúi đầu.

Ông đặt hai bàn tay lên đùi, cúi người xuống, cái lưng đã còng càng còng thêm. Cái lưng ấy, hôm ở sân nhà bá hộ Lưu, đứng thẳng như cây cột đình. Cái lưng ấy, trước ba bồ thóc cao quá đầu người, không chịu cúi xuống một chút nào.

Giờ nó cúi xuống, trước một bà chủ quán cơm, vì Nguyên.

– Nhờ cô. – Cha nói, giọng khàn khàn. – Thằng bé chịu khó. Nó không ăn vạ, không nói dối. Cô cho nó miếng cơm, nó làm được gì cô bảo nó làm.

Cô Mận im lặng.

Nguyên đứng nhìn lưng cha, cổ họng nghẹn lại như vừa nuốt phải một miếng củ chuối.

Một lúc sau, cô Mận phẩy tay.

– Thôi, anh đứng thẳng lên đi. Bà tôi đã nhắn thì tôi nhận. – Cô quay sang Nguyên. – Mày. Từ giờ tao bảo gì làm nấy. Ngủ dưới gầm bếp. Ngày hai bữa. Rằm cho về.

Cha đứng thẳng dậy. Ông không nhìn Nguyên. Ông nhìn ra cửa quán, nhìn ra con đường lát đá dẫn ra chợ.

– Rằm tao xuống đón. – Cha nói. – Tháng nào tao chả xuống đây bán củi.

– Vâng.

Cha cúi xuống, nhặt đôi quang gánh nhỏ của Nguyên, buộc gọn vào đầu đòn gánh của mình. Rồi ông đặt đòn gánh lên vai.

Ông quay đi.

Nguyên đứng ở cửa quán, nhìn theo. Cha đi chậm, chân trái tập tễnh, hai cái quang gánh rỗng đung đưa sau lưng, một to một nhỏ. Cha đi qua cổng võ quán, không dừng lại nữa. Đi qua dãy phố. Đi vào đám đông ngoài chợ.

Cha không ngoái lại lần nào.

Nguyên đứng nhìn cho đến khi không còn thấy cái lưng cha đâu nữa.


Buổi chiều và buổi tối hôm ấy, Nguyên rửa bát.

Gian bếp nhà cô Mận rộng gấp đôi gian nhà nó. Có ba cái bếp đun củi, lửa lúc nào cũng đỏ. Có hai cái chum nước to bằng người. Và có bát. Bát chồng lên bát, đĩa chồng lên đĩa, đũa vứt thành đống trong rổ. Khách ăn xong, thằng bé lau bàn bưng bát vào, đổ ầm xuống chậu, rồi lại chạy ra. Nguyên rửa chưa xong chồng này đã có chồng khác.

Nó ngồi xổm cạnh chậu nước, rửa từng cái bát một. Nước lạnh. Mỡ đóng váng trên mặt nước. Tro bếp chà vào bát cho sạch mỡ, chà vào tay cũng rát. Đến lúc trời tối hẳn, mười đầu ngón tay nó đã nhăn nheo, trắng bệch, như ngâm trong nước cả ngày.

Nhưng nó không kêu. Nó nhớ lưng cha cúi xuống.

Gần khuya, khách vãn. Cô Mận vào bếp, múc một bát cơm, đặt xuống trước mặt Nguyên.

– Ăn đi.

Nguyên nhìn bát cơm.

Cơm trắng. Không độn khoai, không độn sắn, không lẫn cám. Hạt cơm trắng tinh, dẻo, bốc khói nghi ngút. Cô Mận còn rưới lên trên một muôi nước cá kho, và gắp thêm một miếng cá. Nguyên đã quên mất lần cuối cùng nó được ăn một bát cơm trắng đầy như thế là bao giờ.

Nó cầm đũa lên, và ăn.

Nó ăn như ở nhà. Lùa từng miếng lớn, nhai vội, nuốt vội. Ăn được nửa bát, nó chợt dừng lại.

Bông.

Bông đang ở nhà, ăn cháo cám. Ăn củ chuối chát xít. Bông khóc đêm vì đói.

Nguyên liếc nhìn về phía cửa bếp. Cô Mận đang đứng ở gian ngoài, đếm tiền. Nó lén vốc một nắm cơm trong bát, nắm chặt lại thành một nắm cơm nhỏ, rồi luồn tay giấu vào trong túi áo.

– Làm gì đấy?

Nguyên giật bắn người. Cô Mận đứng ở cửa bếp từ lúc nào, tay chống hông.

Nguyên cúi đầu. Bàn tay vẫn còn trong túi áo, nắm cơm ấm ấm trong lòng bàn tay.

Cô Mận nhìn nó một lúc. Nó chờ một trận quát mắng, chờ cô bảo nó ăn cắp. Nhưng cô chỉ thở ra một hơi.

– Ăn đi. – Cô nói. Giọng cô vẫn sang sảng, nhưng không còn gắt. – Để dành thì đến rằm cơm cũng thiu. Rằm tao cho mang gạo về.

Nguyên ngẩng lên.

– Thật ạ?

– Tao nói thì là thật. – Cô Mận quay đi. – Ăn xong thì rửa nốt chỗ bát kia rồi đi ngủ.

Nguyên rút nắm cơm ra, bỏ lại vào bát. Nó ăn hết, không bỏ sót một hạt nào.


Chỗ ngủ của Nguyên là gầm bếp, chỗ người ta xếp củi khô. Cô Mận cho nó một manh chiếu rách và một cái chăn bông cũ, sờn mép. Gầm bếp ấm. Hơi nóng từ bếp lửa còn tỏa ra, thơm mùi khói củi và mùi cơm cháy.

Nguyên nằm co người trên manh chiếu, tay luồn vào túi áo trong, nắm lấy chiếc lục lạc. Mặt bạc mát lạnh.

Đây là đêm đầu tiên trong đời nó không ngủ ở nhà. Không có Bông nằm bên cạnh, ôm khư khư góc chăn. Không có tiếng mẹ hát ru. Không có tiếng ngáy của cha ở gian bên. Chỉ có tiếng lửa tàn lách tách trong bếp, tiếng chuột chạy trên xà nhà, và xa xa, tiếng sông Cái chảy.

Nó nhớ lưng cha cúi xuống.

Nó nắm chặt chiếc lục lạc, và nhắm mắt lại.


– Hây!

Nguyên mở mắt.

Trời chưa sáng hẳn. Qua khe cửa bếp, chỉ thấy một vệt trời xám nhạt. Bếp lửa đã tắt, chỉ còn tro ấm.

– Hây! Hây!

Tiếng hô vọng lại, gần lắm. Đều đặn, trầm và chắc, như hôm qua ở cổng võ quán. Nhưng lần này nó không vọng ra từ phía cổng. Nó vọng qua bức tường phía sau bếp.

Nguyên ngồi dậy. Nó nhìn bức tường ấy. Bức tường gạch cũ, rêu phủ chân tường, cao hơn đầu người lớn. Sát chân tường, củi khô xếp thành một đống cao.

– Hây!

Nó bò ra khỏi gầm bếp, đi chân đất trên nền gạch lạnh. Nó trèo lên đống củi, từng thanh một, cẩn thận cho củi khỏi đổ. Lên đến đỉnh đống củi, hai tay nó bám được vào mép tường.

Nguyên nhón chân, ló đầu qua mép tường.

Bên kia là một khoảng sân đất nện, rộng, phẳng lì. Sương sớm còn giăng mỏng trên mặt sân. Và giữa màn sương ấy, có mấy chục người cởi trần đang đứng tấn, thẳng hàng, thẳng lối. Hai chân dang rộng, đầu gối khuỵu xuống, lưng thẳng như cột đình, hai nắm tay đặt bên hông. Hơi thở họ phả ra thành khói trắng trong cái lạnh tháng Giêng.

– Hây!

Mấy chục nắm tay cùng lúc đấm ra phía trước. Mấy chục tiếng hô cùng lúc vang lên, như một tiếng duy nhất.

Nguyên bám chặt mép tường, quên cả lạnh, quên cả thở.