Chương 6: Bên kia bức tường
Từ hôm ấy, Nguyên dậy sớm hơn cả gà.
Nó tập dậy từ lúc trời còn tối như mực, khi ngoài chợ chưa có một tiếng động nào, khi sông Cái còn chìm trong sương. Nó bò ra khỏi gầm bếp, rón rén như mèo, nhóm lửa ba cái bếp, đổ nước đầy hai chum, vo sẵn gạo, quét sạch tro. Những việc ấy cô Mận vẫn giao cho nó làm mỗi sáng. Làm xong sớm, nó còn dư ra một khoảng ngắn trước khi cô Mận thức dậy, chừng một khắc, đủ để một nồi nước sôi.
Khoảng ngắn ấy là của nó.
Nó trèo lên đống củi. Hai tay bám mép tường. Nhón chân. Ló đầu.
Bên kia, sân tập đã có người. Võ sinh đến từ lúc trời còn nhá nhem, đứng thành hàng, cởi trần trong sương lạnh. Có hơn ba chục người, đứa nhỏ nhất chắc chỉ hơn Nguyên vài tuổi, người lớn nhất đã có râu. Họ bắt đầu bằng đứng tấn. Đứng rất lâu, lâu đến mức mặt trời ló lên khỏi mái nhà mà họ vẫn chưa được đứng thẳng dậy. Rồi đến đấm. Rồi đến đá. Rồi đến những bài quyền dài, chân bước, tay đánh, người xoay, cả chục người cùng làm một động tác như cùng một cơ thể.
Thầy Cao đi giữa các hàng.
Thầy là một ông già thấp đậm, tóc hoa râm búi củ hành sau gáy. Thầy mặc áo nâu, tay áo xắn lên, để lộ hai cánh tay không to nhưng rắn như gỗ lim. Bàn tay thầy to như cái quạt nan. Thầy ít nói. Phần lớn thời gian, thầy chỉ đi, chắp tay sau lưng, nhìn. Nhưng hễ thấy ai làm sai, thầy dừng lại trước mặt người đó, và chỉ một câu.
– Gối không quá mũi chân.
Một võ sinh đang đứng tấn giật mình, rụt đầu gối về.
– Thở bằng bụng. Không thở bằng ngực.
Một người khác vội hóp ngực lại.
– Đấm bằng hông. Không phải bằng vai.
Nguyên nghe từng câu. Nó không hiểu hết. Đấm bằng hông là đấm thế nào? Hông thì làm sao mà đấm được? Nhưng nó nhớ. Nó nhớ từng chữ, từng giọng nói trầm trầm như tiếng trống đình, và nó nhìn người võ sinh vừa bị chỉnh đấm lại lần nữa, nhìn cái hông người ấy xoay đi trước khi nắm tay bung ra.
À. Thế ra là thế.
– Nguyên!
Tiếng cô Mận vọng ra từ gian trong. Nguyên tụt xuống khỏi đống củi nhanh như con sóc, chạy lại bên bếp, cầm cái que cời than lên.
– Dạ!
– Nước sôi chưa?
– Sôi rồi ạ!
Cô Mận bước vào bếp, ngái ngủ, tóc chưa vấn. Cô nhìn ba cái bếp lửa đỏ rực, nhìn hai chum nước đầy, nhìn nồi gạo đã vo sẵn. Rồi cô nhìn Nguyên, nhìn cái đầu tóc còn dính một mảnh vỏ cây.
Cô không nói gì. Cô chỉ nhặt mảnh vỏ cây trên đầu nó, ném vào bếp.
Thằng Cò ghét Nguyên ngay từ ngày đầu.
Hay ít nhất là nó làm như thế.
Thằng Cò mười một tuổi, hơn Nguyên hai tuổi, nhưng cao hơn cả cái đầu. Nó gầy, chân tay dài lêu nghêu, cổ cũng dài, đi đứng lúc nào cũng hơi khom khom, trông y như con cò lội ruộng. Cả chợ gọi nó là thằng Cò, nên nó cũng tự gọi mình là thằng Cò. Tên thật của nó là gì thì chính nó cũng không chắc. Nó mồ côi từ bé, lớn lên ở chợ, ai cho gì ăn nấy, ai sai gì làm nấy, cho đến khi cô Mận nhận nó về quán.
– Ê, nhà quê. – Thằng Cò gọi Nguyên như thế. – Bưng chồng bát kia vào. Nhanh lên, nhà quê.
Nguyên bưng chồng bát vào.
– Nhà quê, ra giếng gánh thêm nước.
Nguyên ra giếng gánh thêm nước.
– Nhà quê, mày rửa bát thế à? Rửa thế đến Tết năm sau cũng chưa xong.
Nguyên ngẩng lên. Thằng Cò đứng chống nạnh bên chậu nước, nhìn xuống nó với vẻ khinh khỉnh. Rồi nó ngồi xổm xuống, giật lấy cái bát trong tay Nguyên.
– Nhìn đây.
Nó với tay lấy một nắm xơ mướp khô treo trên vách, nhúng vào tro bếp, kỳ một vòng quanh lòng bát. Một vòng là sạch mỡ. Nó nhúng bát vào chậu nước thứ nhất, tráng qua, rồi nhúng vào chậu nước thứ hai, tráng lại, úp lên rổ. Cả thảy chưa bằng mười hơi thở.
– Một chậu rửa, một chậu tráng. – Thằng Cò nói. – Ai lại rửa với tráng chung một chậu như mày. Nước bẩn thì bát bẩn. Nhà quê.
Nó ném nắm xơ mướp vào lòng Nguyên, đứng dậy đi ra.
Nguyên cầm nắm xơ mướp. Nó làm thử. Một vòng. Sạch thật.
Chiều hôm ấy, nó rửa xong chồng bát sớm hơn hẳn mọi hôm.
Mấy ngày sau, lúc hai đứa ngồi ăn cơm trưa muộn ở góc bếp, Nguyên hỏi:
– Cái võ quán bên kia, người ta học có mất tiền không?
Thằng Cò cười phì, cơm suýt phụt ra.
– Mất tiền á? Mất cả đống tiền ấy chứ. Một tháng học phí bằng cả tháng tiền công của tao với mày cộng lại, nhân lên gấp mười. – Nó gắp miếng cá, nhai nhồm nhoàm. – Toàn con nhà buôn gỗ, con nhà chủ bè, con quan huyện. Con nhà nghèo như mày với tao thì đứng ngoài cổng mà nghe.
Nguyên im lặng một lúc.
– Thế cái biển trên cổng viết gì?
– Biển nào?
– Cái biển sơn đen, chữ vàng ấy.
Thằng Cò nhún vai.
– Chữ thì ai biết. Tao có biết chữ đâu. Người ta gọi là võ quán ông Cao, thế thôi.
Tối nào cũng vậy, rửa xong chồng bát cuối cùng, Nguyên ra sau bếp.
Sau bếp có một khoảng sân nhỏ, lát gạch, chỗ cô Mận phơi rổ rá và xếp chum vại. Ban đêm không có ai ra đây. Chỉ có trăng, và tiếng sông Cái chảy xa xa.
Nguyên đứng tấn.
Nó làm đúng như những gì nó đã nhìn thấy. Hai chân dang rộng. Đầu gối khuỵu xuống. Lưng thẳng. Hai nắm tay đặt bên hông.
Mới đầu thì dễ. Đếm đến mười hơi thở, nó thấy chẳng có gì khó. Đến hai mươi, đùi bắt đầu nóng lên. Đến ba mươi, hai bắp chân run bần bật, như có con gì đang bò trong thịt. Đến bốn mươi, đầu gối nó tự khuỵu xuống thấp hơn, thấp nữa, rồi nó ngã ngồi phịch xuống nền gạch.
Nó ngồi đó, thở hổn hển.
Rồi nó đứng dậy, đứng tấn lại.
Thở bằng bụng. Không thở bằng ngực.
Nó thử. Hít vào, để bụng phình ra, chứ không phải ngực. Thở ra, để bụng hóp lại. Lạ thay, thở như thế thì hơi dài hơn, đều hơn. Bắp chân vẫn run, nhưng run chậm lại.
Đêm ấy nó đứng được năm mươi hơi thở.
Đêm sau, năm mươi lăm.
Đêm sau nữa, nó ngã ở bốn mươi tám. Nó tức đến mức đấm thình thịch xuống đùi mình, rồi đứng dậy đứng lại từ đầu.
Một đêm, khi nó đang đếm đến hơi thở thứ sáu mươi, có tiếng cười khúc khích sau lưng.
Nguyên giật mình, suýt ngã. Thằng Cò đứng tựa vào cột hiên, tay ôm bụng cười sặc sụa.
– Mày làm cái trò gì thế, nhà quê? Mày ngồi chồm hổm như con ếch rình muỗi ấy.
Mặt Nguyên nóng bừng. Nó đứng thẳng dậy.
– Đứng tấn.
– Đứng tấn? – Thằng Cò cười to hơn. – Mày nhìn trộm bên kia hả? Tao biết thừa. Sáng nào mày cũng trèo lên đống củi, mông chổng lên trời. Tao tưởng mày nhìn trộm con gái nhà nào.
Nguyên không đáp. Nó dang chân ra, khuỵu gối xuống, đứng tấn lại. Mặc kệ thằng Cò cười.
Thằng Cò cười thêm một lúc. Rồi tiếng cười nhỏ dần. Rồi tắt.
Nó đứng nhìn Nguyên. Nhìn hai bắp chân run run nhưng không ngã. Nhìn cái bụng gầy phập phồng lên xuống, đều đều.
– Có khó lắm không? – Thằng Cò hỏi.
– Mày thử đi.
Thằng Cò nhổ nước bọt vào hai lòng bàn tay, xoa xoa, như thể sắp làm việc gì to tát lắm. Rồi nó dang chân, khuỵu gối, đứng tấn cạnh Nguyên. Cái thân lêu nghêu gập lại, trông càng giống con cò hơn.
Một hơi thở.
Hai hơi thở.
Ba hơi thở.
Nó ngã lăn quay ra nền gạch, chân tay khua loạn xạ.
– Mẹ ơi! – Thằng Cò kêu lên. – Đùi tao! Đùi tao như bị ai lấy dao cứa!
Lần này đến lượt Nguyên bật cười. Nó cười to, cười không giữ được, cười đến mức chính nó cũng ngã ngồi xuống.
Thằng Cò nằm ngửa trên nền gạch, nhìn lên trời, thở phì phò. Rồi nó cũng cười.
Hai đứa nằm cạnh nhau trên nền gạch lạnh, cười đến chảy nước mắt, dưới ánh trăng tháng Giêng.
– Mai tao đứng với mày. – Thằng Cò nói, khi đã cười xong. – Tao không tin tao thua thằng nhà quê.
Từ đêm ấy, nó thôi không gọi Nguyên là nhà quê nữa. Nó gọi là "thằng Nguyên". Có hôm nó gọi là "mày", có hôm "con ếch". Nhưng không bao giờ gọi "nhà quê" nữa.
Rồi đến cái sáng hôm ấy.
Nguyên vẫn trèo lên đống củi như mọi sáng. Vẫn bám mép tường, nhón chân, ló đầu. Sân tập vẫn đông người, sương vẫn giăng mỏng. Thầy Cao đang đứng ở đầu hàng, chắp tay sau lưng.
Nhưng hôm ấy, một võ sinh đứng ở hàng cuối, gần bức tường, bất chợt quay đầu lại.
Hắn chừng mười lăm, mười sáu tuổi, mặt trắng, người to béo, mặc quần lụa, khác hẳn những võ sinh khác mặc quần vải. Mắt hắn chạm phải mắt Nguyên.
– Có đứa nhìn trộm! – Hắn hét lên, chỉ thẳng tay vào bức tường. – Thằng ăn mày nhìn trộm!
Cả sân tập quay lại.
Nguyên chưa kịp tụt xuống thì một hòn đất bay vèo tới. Hòn đất trúng mép tường ngay cạnh tay nó, vỡ tung, đất văng vào mặt. Nó giật mình, buông tay. Chân trượt trên đống củi.
Nguyên ngã ngửa ra sau.
Đống củi đổ theo, ầm ầm, lăn lông lốc khắp sân sau. Một thanh củi đập vào ống chân nó đau điếng. Mấy cái rổ rá phơi trên sào rơi xuống, lăn tròn. Cái chum nước đặt sát chân tường bị một thanh củi đập trúng, kêu coong một tiếng.
Bên kia tường, tiếng cười ồ lên.
– Nguyên! – Tiếng cô Mận gào lên từ trong nhà. – Cái gì thế hả?
Cô Mận chạy ra, tóc rối bù, tay còn cầm cái lược. Cô nhìn đống củi đổ tung tóe. Nhìn rổ rá lăn lóc. Nhìn Nguyên nằm giữa đống củi, mặt lấm đất, tay ôm ống chân.
Cô Mận mắng. Mắng một trận ra trò. Mắng rằng nó phá nhà phá cửa, rằng nó làm đổ củi của cô, rằng nếu cái chum nứt thì cô trừ vào gạo rằm của nó. Giọng cô sang sảng, vang khắp sân sau, át cả tiếng cười bên kia tường.
Nguyên lồm cồm bò dậy, cúi đầu, xếp lại từng thanh củi.
Thằng Cò ở trong bếp ló đầu ra, nhìn nó, nhăn mặt thay nó.
Mắng xong, cô Mận quay vào. Đi được mấy bước, cô dừng lại, không quay đầu.
– Củi xếp thấp xuống. – Cô nói. – Xếp cao thế, đổ vào người thì gãy cổ.
Rồi cô đi vào.
Nguyên đứng giữa sân sau, ôm một bó củi, nhìn theo lưng cô Mận. Nó không chắc mình vừa nghe thấy gì.
Chiều hôm ấy, nó xếp lại đống củi. Thấp hơn một chút. Nhưng vẫn đủ cao để trèo lên.
Sáng hôm sau, nó lại trèo lên.
Thằng Cò đứng dưới chân đống củi, nhìn lên, lắc đầu.
– Mày điên à? Hôm qua chưa đủ hả?
Nguyên không trả lời. Nó bám mép tường, nhón chân, ló đầu qua.
Và thầy Cao đang nhìn nó.
Không phải nhìn vu vơ. Thầy đứng giữa sân, đầu ngẩng lên, mắt nhìn thẳng vào mép tường, thẳng vào mặt nó, như đã đứng đó chờ từ trước. Đôi mắt thầy nhỏ, sâu, nằm dưới hai hàng lông mày rậm đã điểm bạc.
Nguyên chết lặng. Tay nó cứng đờ trên mép tường. Nó không tụt xuống được, cũng không thở được.
Cả sân tập im phăng phắc. Mấy chục võ sinh nhìn theo ánh mắt thầy, quay lại, ngó lên bức tường. Thằng béo mặc quần lụa hôm qua nhếch mép cười.
Rồi thầy Cao quát.
– Thằng kia!
Giọng thầy không to bằng giọng cô Mận. Nhưng nó vang, vang như tiếng trống đình đánh giữa đêm, dội vào tường, dội vào ngực Nguyên.
– Xuống ngay! Nhìn trộm cả tháng mà đứng tấn gối vẫn chìa quá mũi chân, nhìn làm gì cho nhục! Còn để tao thấy lần nữa thì tao bẻ gãy chân!
Võ sinh cười ồ lên. Thằng béo cười to nhất, vỗ đùi đen đét.
Nguyên tụt xuống.
Nó tụt xuống nhanh đến mức suýt ngã lần nữa. Nó ngồi sụp xuống sau đống củi, lưng dựa vào chân tường, hai tay ôm đầu gối. Mặt nó nóng bừng như vừa bị ai tát. Tai nó ù đi. Tiếng cười bên kia tường vẫn còn vang.
Thằng Cò ngồi xuống cạnh nó, không nói gì. Nó chỉ huých nhẹ vai Nguyên một cái.
Tiếng cười bên kia tường tắt dần. Rồi im.
Rồi một giọng nói vang lên, trầm và chắc. To hơn mọi hôm. To đến mức Nguyên ngồi sau bức tường gạch dày mà vẫn nghe rõ từng chữ, như người nói đang đứng ngay bên cạnh:
– Gối không quá mũi chân!
Đêm ấy, Nguyên đứng tấn một mình ở sân sau.
Thằng Cò ngủ rồi. Nó đã đứng được mười hai hơi thở trước khi ngã, đã chửi đổng một tràng, rồi bò vào ngủ.
Nguyên dang chân. Khuỵu gối. Hai nắm tay đặt bên hông.
Câu quát của thầy Cao vẫn cứ vang trong đầu nó. Nhìn trộm cả tháng mà đứng tấn gối vẫn chìa quá mũi chân.
Nó cúi xuống nhìn đầu gối mình.
Dưới ánh trăng, nó thấy rõ. Đầu gối nó đang chìa ra, vượt khỏi mũi chân một đốt ngón tay. Chỉ một đốt ngón tay thôi. Đứng thì không thấy. Phải cúi xuống nhìn mới thấy.
Nó rụt đầu gối về. Ngay lập tức, cơ đùi căng lên, nóng ran, nhưng hai bắp chân thôi không run nữa. Sức nặng của cả người dồn xuống, chắc chắn hơn, như cái cột đình cắm sâu xuống đất.
Nguyên đứng im trong tư thế ấy.
Nhìn trộm cả tháng.
Thầy biết nó nhìn trộm cả tháng.
Đứng tấn gối vẫn chìa quá mũi chân.
Thầy chưa bao giờ nhìn thấy nó đứng tấn. Nó chỉ đứng tấn ở sân sau, ban đêm, sau bức tường. Vậy mà thầy biết đầu gối nó chìa ra quá mũi chân.
Trừ khi thầy đã nhìn thấy.
Nguyên ngẩng lên, nhìn bức tường gạch tối om sau lưng. Trăng đã lên cao, soi xuống mép tường, soi cả đống củi xếp thấp hơn hôm qua một chút.
Nó đứng như thế, không đếm hơi thở nữa, cho đến khi trăng lặn.