Chương 7: Rằm tháng Hai
Sáng rằm, Nguyên dậy sớm hơn mọi hôm.
Nó nhóm bếp, gánh nước, vo gạo, quét tro, xong cả rồi mà trời vẫn còn tối. Nó không trèo lên đống củi. Từ hôm bị thầy Cao quát, nó chưa trèo lên lần nào nữa. Nó chỉ ngồi sau bếp, lưng dựa vào bức tường gạch, nghe tiếng hô bên kia vọng sang, đều đặn như nhịp chày giã gạo.
– Hây! Hây!
Nó nhắm mắt lại, hình dung từng động tác theo tiếng hô. Đứng tấn. Đấm trái. Đấm phải. Hông xoay trước, tay bung sau.
Rồi nó mở mắt, nhìn ra cửa bếp, nhìn về phía con đường lát đá dẫn ra chợ.
Hôm nay rằm.
Cả buổi sáng, nó rửa bát mà mắt cứ dán ra cửa. Có tiếng chân ai đi qua, nó lại ngẩng lên. Có cái bóng người gánh củi thấp thoáng ngoài phố, tim nó lại đập thình thịch. Không phải cha. Lại không phải cha. Thằng Cò bưng chồng bát vào, thấy thế thì bĩu môi:
– Mày ngóng gì mà ngóng như con chó chờ chủ thế?
Nguyên không cãi. Nó cúi xuống rửa bát tiếp. Được một lúc, nó lại ngẩng lên.
Gần trưa, cái bóng ấy đến thật.
Cha đứng ở cửa quán, đòn gánh trên vai, hai cái quang gánh rỗng. Củi đã bán xong. Ông không bước vào, chỉ đứng đó, mồ hôi ướt đẫm cổ áo, chân trái hơi co lên vì mỏi.
Nguyên bỏ dở cái bát đang rửa, đứng bật dậy. Nó định chạy ra. Nhưng chạy được hai bước thì nó dừng lại, lau hai bàn tay ướt vào vạt áo, rồi mới đi ra, chậm rãi, như người lớn.
– Cha.
Cha nhìn nó, từ đầu xuống chân. Nhìn hai má nó. Hai má nó đã đầy lên một chút sau một tháng được ăn cơm trắng.
Cha không nói gì. Chỉ gật đầu.
Cô Mận từ trong quán đi ra, tay cầm một cái túi vải nhỏ, buộc túm miệng bằng sợi lạt.
– Anh Tráng xuống rồi đấy à. – Cô dúi cái túi vào tay Nguyên. – Gạo đây. Ba bơ. Còn đây là tiền công.
Cô đặt vào lòng bàn tay nó mấy đồng tiền đồng, đồng xu cũ, mòn vẹt, buộc vào nhau bằng một sợi dây.
Nguyên cầm túi gạo. Nặng. Cái nặng ấy truyền qua bàn tay, lên cánh tay, lên tận ngực nó.
– Thằng này rửa bát được. – Cô Mận nói với cha, giọng như đang chê. – Chậm thì chậm, nhưng sạch. Không ăn vụng, không nói leo. Chỉ được cái hay leo trèo phá củi nhà tôi.
Cha liếc sang Nguyên. Nguyên cúi mặt.
– Cảm ơn cô. – Cha nói.
Thằng Cò đứng tựa cửa quán, tay khoanh trước ngực, mắt nhìn đi chỗ khác, giả như chẳng quan tâm gì. Nhưng lúc Nguyên đi ngang qua, nó khẽ nói, không quay đầu lại:
– Mai về sớm. Không có mày, tao rửa bát một mình chết mất.
Hai cha con vừa ra khỏi quán được mươi bước thì gặp thầy Cao.
Thầy đang từ trong võ quán đi ra, tay xách cái giỏ mây, chắc định đi chợ. Thầy vẫn mặc cái áo nâu xắn tay, tóc búi củ hành. Thầy đi ngang qua hai cha con, không nhìn.
Rồi thầy dừng lại.
Thầy quay đầu, nhìn cha. Nhìn cái dáng to, vai rộng mà còng. Nhìn cái chân trái tập tễnh. Nhìn gương mặt sạm đen, râu lởm chởm. Đôi mắt nhỏ, sâu dưới hai hàng lông mày rậm hơi nheo lại.
– Tráng?
Cha khựng người.
Nguyên đứng bên cạnh, thấy rõ cái khựng ấy. Như người đang đi trên bờ ruộng bỗng giẫm hụt chân. Hai vai cha cứng lại. Đòn gánh trên vai chao đi một chút.
Rồi cha hạ đòn gánh xuống. Ông đặt nó tựa vào tường, chắp hai tay trước ngực, cúi đầu.
– Thầy.
Nguyên mở to mắt nhìn cha. Rồi nhìn thầy Cao. Rồi lại nhìn cha.
– Bao nhiêu năm rồi nhỉ? – Thầy Cao nói. Giọng thầy vẫn trầm, vẫn chậm như ngoài sân tập, nhưng không có vẻ quát mắng.
– Dạ, hai mươi năm. – Cha nói. Ông vẫn cúi đầu. – Con hết tiền nộp cho thầy thì về. Không kịp chào thầy.
– Ta biết. – Thầy Cao gật đầu. – Chân anh làm sao thế?
– Dạ, cây đè. Đốn củi trên núi.
Thầy Cao im lặng một lúc. Rồi thầy chuyển ánh mắt sang Nguyên.
Nguyên đứng chết trân.
– Thằng bé nhà anh à?
– Dạ. – Cha nói. – Thằng Nguyên nhà con.
Thầy Cao nhìn Nguyên. Nhìn lâu. Đôi mắt nhỏ ấy lướt qua mặt nó, qua vai nó, xuống tận hai bàn chân nó đang đứng trên mặt đá. Nguyên có cảm giác thầy đang nhìn cái cách nó đứng, đếm xem đầu gối nó thẳng hay cong.
Rồi thầy quay sang cha, giọng tỉnh bơ như đang nói chuyện giá gạo:
– Về bảo nó đứng tấn thì gối không quá mũi chân.
Nói xong, thầy xách giỏ đi thẳng ra chợ. Không ngoái lại.
Cha đứng ngây ra, nhìn theo lưng thầy. Rồi ông quay sang nhìn Nguyên.
Mặt Nguyên đỏ bừng, đỏ đến tận mang tai. Nó cúi gằm, ôm chặt túi gạo trước ngực, hai mắt dán xuống mũi chân.
Cha nhìn nó một lúc lâu. Ông không hỏi gì. Ông cúi xuống nhặt đòn gánh, đặt lên vai.
– Về.
Đường đê buổi chiều nắng nhạt. Gió từ sông Cái thổi lên, mát rượi, mang theo mùi phù sa.
Hai cha con đi trong im lặng. Cha đi trước, Nguyên đi sau, ôm túi gạo. Cha không hỏi chuyện thầy Cao. Không hỏi chuyện đứng tấn. Không hỏi chuyện gì cả. Nguyên đi sau lưng cha, chờ mãi một câu hỏi, nhưng câu hỏi ấy không đến.
Gần đến làng, xa xa đã thấy lũy tre đầu làng, thấy cây đa, thấy mái đình rêu phong, Nguyên mới dám thở ra.
Bông đã đứng ở đầu ngõ từ bao giờ.
Con bé đứng trên bờ rào, hai tay bám cành dâm bụt, nhón chân ngóng ra đường. Vừa thấy bóng hai cha con, nó hét lên một tiếng, nhảy phắt xuống, chạy như bay.
– Anh Nguyên! Anh Nguyên về!
Nó lao vào Nguyên, ôm chầm lấy, đầu đập vào bụng anh. Nguyên loạng choạng lùi một bước, suýt đánh rơi túi gạo.
– Từ từ thôi. – Nguyên nói, nhưng tay nó đã vòng qua ôm lấy em.
Bông gầy đi nhiều. Hai cánh tay ôm quanh người Nguyên chỉ còn da bọc xương. Nhưng con bé cười, cười toe toét, lộ ra cái răng cửa sún đã nhú lên một mẩu răng mới, trắng tinh.
– Anh đi lâu thế! Bông đếm mãi, đếm hết cả ngón tay, ngón chân, mà anh vẫn chưa về!
Mẹ đứng ở cổng. Mẹ không chạy ra. Mẹ chỉ đứng đó, hai tay nắm chặt vạt áo, nhìn Nguyên. Môi mẹ mím lại, run run.
Nguyên bước đến trước mặt mẹ, đưa túi gạo ra.
– Gạo đây mẹ. Cô Mận cho. Ba bơ.
Mẹ nhìn túi gạo. Rồi nhìn Nguyên. Mẹ không cầm túi gạo. Mẹ đưa tay lên, xoa má nó. Bàn tay mẹ chai sần, lạnh ngắt, run run.
– Con béo ra một tí. – Mẹ nói. Giọng mẹ nghẹn lại.
Rồi mẹ quay mặt đi, đưa vạt áo lên lau mắt.
Tối hôm ấy, nhà Nguyên ăn cơm trắng.
Mẹ nấu một nồi cơm bằng gạo Nguyên mang về. Không độn khoai, không độn cám. Mẹ còn luộc thêm một mớ rau muống xin của bà cụ hàng xóm, và kho mấy con tép mẹ vớt được ngoài mương.
Nồi cơm vừa mở vung, hơi nóng bốc lên, thơm phức, thơm khắp cả gian nhà.
Bông ngồi trước bát cơm của mình, không ăn ngay. Con bé cứ nhìn bát cơm. Nhìn những hạt cơm trắng tinh, dẻo, bóng. Nó cầm đũa lên, gắp một miếng thật nhỏ, đưa lên miệng, nhai thật chậm. Chậm đến mức như sợ ăn nhanh thì bát cơm sẽ hết.
– Ngon quá. – Bông thì thầm. – Cơm trắng ngon quá, mẹ ơi.
Mẹ quay đi, nhìn ra cửa.
Nguyên ăn một bát. Ăn chậm, không lùa vội như mọi khi. Ăn xong, nó đặt bát xuống.
– Con no rồi.
– No gì mà no. – Mẹ nói. – Ăn thêm đi con.
– Con no thật. Ở quán ngày nào con cũng được ăn cơm trắng. – Nguyên đẩy nồi cơm về phía Bông. – Bông ăn đi.
Bông nhìn anh, rồi nhìn nồi cơm, rồi lại nhìn anh, mắt sáng rực.
Cha ngồi đầu mâm, không nói gì. Ông ăn hai bát, chậm rãi, như nhai từng hạt. Đến bát thứ ba, ông cầm đũa lên, rồi lại đặt xuống, đẩy bát về phía mẹ.
Dọn mâm xong, Nguyên lấy chuỗi tiền đồng trong túi áo ra, đặt vào tay mẹ.
– Tiền công đây mẹ.
Mẹ nhìn chuỗi tiền. Mấy đồng xu mòn vẹt, buộc vào nhau bằng sợi dây gai. Mẹ đếm. Đếm một lần, rồi đếm lại lần nữa, như sợ mình đếm nhầm. Rồi mẹ đứng dậy, với tay lên vách, lấy cái ống tre nhỏ cắm ở đó, thứ mẹ vẫn dùng để đựng kim chỉ. Mẹ đổ kim chỉ ra, bỏ chuỗi tiền vào, rồi cắm cái ống tre lại chỗ cũ.
– Để dành. – Mẹ nói. – Mai kia có việc mà cần.
Cha ngồi bên bếp, nhìn cái ống tre trên vách. Ông không nói gì.
Sau bữa cơm, Bông bám riết lấy Nguyên.
– Anh ơi, thị trấn có to không? To bằng mấy làng mình?
– To lắm. To bằng mười làng mình.
– Có nhiều người không?
– Đông như kiến. Đi trong chợ phải nép vào nhau mà đi.
– Có sông không?
– Có. Sông to lắm. Trên sông có bè gỗ, dài như cả dãy nhà. Người ta đứng trên bè, cầm sào chống đi.
Bông há hốc miệng. Đôi mắt một mí mở tròn hết cỡ.
Nguyên kể mãi. Kể chuyện bè gỗ, chuyện chợ, chuyện ông lão nặn con giống bằng bột màu. Kể chuyện thằng Cò cao lêu nghêu như con cò. Nó không kể chuyện võ quán. Không kể chuyện trèo tường. Không kể chuyện bị quát.
Bông ngủ thiếp đi lúc nào không biết, đầu gối lên đùi anh.
Khuya, cha gọi Nguyên ra hiên.
Trăng rằm tròn vành vạnh, treo trên ngọn tre đầu ngõ, sáng đến mức thấy rõ cả từng chiếc lá. Cha ngồi trên bậc thềm, ôm cái điếu cày. Ông rít một hơi, tiếng nước trong điếu kêu sòng sọc, rồi nhả khói ra từ từ.
Nguyên ngồi xuống bậc thềm bên cạnh cha. Cách một sải tay.
Cha hút hết một mồi thuốc. Rồi nạp mồi thứ hai. Rồi mới nói:
– Ông Cao nói thế là thế nào?
Nguyên im lặng.
Nó biết câu hỏi này sẽ đến. Nó đã chờ suốt dọc đường đê. Nhưng khi nó đến thật, Nguyên vẫn thấy cổ họng mình khô khốc.
Nó có thể nói dối. Nó có thể bảo nó không biết. Nhưng nó nhớ lời cha nói với cô Mận hôm trước: Thằng bé chịu khó. Nó không ăn vạ, không nói dối.
– Bếp quán cô Mận sát tường sân tập võ quán. – Nguyên nói. Giọng nó nhỏ. – Sáng nào con cũng dậy sớm, làm xong việc rồi trèo lên đống củi, nhìn trộm sang. Tối thì con đứng tấn ở sân sau. Rồi có hôm bị bắt gặp. Thầy… ông Cao quát con trước mặt mọi người. Bảo con nhìn trộm cả tháng mà đứng tấn gối vẫn chìa quá mũi chân.
Nó dừng lại. Rồi nói nốt:
– Nhưng mà gối con chìa quá mũi chân thật.
Cha không nói gì.
Ông hút thuốc. Một hơi. Hai hơi. Khói thuốc bay lên, mỏng như sương, tan vào ánh trăng.
Nguyên ngồi chờ một trận mắng. Mắng nó lo chuyện tào lao thay vì lo làm. Mắng nó leo trèo phá củi nhà người ta. Mắng nó đua đòi học võ, thứ chỉ dành cho con nhà giàu.
Trận mắng ấy không đến.
Một lúc rất lâu sau, cha nói. Giọng ông trầm, chậm, cụt lủn, mắt vẫn nhìn ra con ngõ trắng ánh trăng:
– Hai mươi năm trước, tao học ở đúng cái sân ấy.
Nguyên quay sang nhìn cha.
– Đúng ông thầy ấy. – Cha nói tiếp. – Sáng nào cũng đứng tấn đến khi mặt trời lên khỏi mái nhà. Ông ấy đi giữa hàng, ai sai thì nói một câu. Không nói câu thứ hai.
Cha rít thêm một hơi thuốc.
– Tao cũng bị ông ấy mắng. Bị mắng nhiều nhất cả lớp.
Nguyên không biết phải nói gì. Nó chỉ ngồi đó, nhìn gương mặt cha nghiêng nghiêng dưới trăng, cái gương mặt sạm đen, râu lởm chởm, và cố hình dung ra một chàng trai trẻ hai mươi tuổi đứng tấn giữa sân tập, mồ hôi chảy ròng ròng, bị thầy quát.
Cha đặt cái điếu cày xuống.
– Ông ấy đã dạy thì mày học cho tử tế. – Cha nói. – Đừng để ông ấy phải mắng hai lần một chỗ.
Rồi ông đứng dậy, chân trái hơi khuỵu xuống, đi vào nhà.
Nguyên ngồi lại một mình trên bậc thềm. Trăng rằm vẫn tròn, vẫn sáng. Nó luồn tay vào túi áo trong, nắm lấy chiếc lục lạc.
Lần đầu tiên từ hôm lên thị trấn, nó thấy ngực mình nhẹ hẳn đi.
Sáng hôm sau, cha lại gánh củi xuống Bến Gỗ. Nguyên đi theo, tay không. Lần này, cha không đi chậm lại nữa. Nguyên bước kịp.
Đến quán, cha để Nguyên ở cửa, rồi gánh củi ra chợ. Không dặn gì thêm. Chỉ quay lại, nhìn nó một cái, rồi đi.
Thằng Cò đang lau bàn, thấy Nguyên thì ném cái giẻ lên vai, làm bộ thở phào:
– May quá. Tao tưởng mày bỏ trốn về quê luôn rồi.
Nguyên cười. Nó vào bếp, xắn tay áo, ngồi xuống bên chậu nước.
Gần trưa, khách vãn, nó ra sân sau đổ nước rửa bát. Đống củi vẫn ở đó, xếp thấp như hôm trước. Bức tường gạch vẫn ở đó, rêu phủ chân tường. Tiếng hô bên kia đã tắt từ lâu.
Nguyên đổ nước xong, quay vào.
Rồi nó dừng lại.
Ở chân tường, sát mặt đất, chỗ bị đống củi che khuất một nửa, có một cái lỗ.
Một cái lỗ vuông vức, to bằng bàn tay. Hôm qua chưa có. Hôm kia cũng chưa có. Nguyên biết chắc, vì nó đã ngồi dựa lưng vào đúng chỗ ấy mỗi sáng. Một viên gạch đã bị gỡ ra. Gỡ cẩn thận, gọn gàng, mép vữa còn mới, vụn vữa rơi lả tả ra phía sân bên này.
Viên gạch đã bị gỡ từ phía bên kia.
Nguyên quỳ xuống. Nó ghé mắt vào cái lỗ.
Qua cái lỗ vuông bằng bàn tay ấy, nó nhìn thấy một góc sân đất nện. Và những bàn chân. Mấy chục bàn chân trần đứng dạng ra, đầu gối khuỵu xuống, vững như những gốc cây cắm sâu xuống đất. Có một lớp đang tập riêng, lặng lẽ, không hô.
Và ở góc xa của cái lỗ, có một đôi chân đi giày vải đen, đứng yên, mũi giày quay về phía bức tường.
Đôi chân ấy đứng đó một lúc. Rồi quay đi.