Lạc Hồng Tiên Lộ

Chương 8: Chữ Nguyên

Cái lỗ gạch chỉ to bằng bàn tay. Qua nó, Nguyên không bao giờ thấy được cả một người.

Sáng nào nó cũng quỳ xuống sau đống củi, áp má vào bức tường lạnh, ghé một mắt vào cái lỗ. Bên kia, sân tập hiện ra thành một khung vuông nhỏ: một mảng đất nện, và những đôi chân. Chân trần, chân đi giày cỏ, chân to, chân nhỏ. Đầu gối. Bắp chân. Có khi cao lắm thì thấy đến hông.

Thế là nó học từ dưới lên.

Nó nhìn bàn chân. Bàn chân của người đứng tấn vững thì mười ngón bám xuống đất như rễ cây, gót không nhấc lên. Bàn chân của người đứng tấn non thì cứ nhúc nhích, gót lúc nhấc lúc hạ, ngón chân co quắp lại như con tôm. Nó nhìn đầu gối. Gối vững thì đứng im, gối non thì run. Nó nhìn hông. Lúc đấm, hông xoay trước, rồi cả người mới xoay theo. Nó không thấy được nắm tay. Nhưng nó thấy được cái hông, và thế là đủ.

Đấm bằng hông. Không phải bằng vai.

Giờ thì nó hiểu.

Giọng thầy Cao vẫn vang lên mỗi sáng. Vẫn to như hôm ấy, to hơn mức cần thiết cho những người đứng ngay trước mặt thầy. Nguyên không biết các võ sinh có thấy lạ không. Nó chỉ biết mỗi câu thầy nói, nó đều nghe rõ từng chữ.

Và thỉnh thoảng, đôi giày vải đen lại xuất hiện trong khung vuông ấy. Nó dừng lại trước cái lỗ, mũi giày quay về phía bức tường. Đứng yên một lúc. Rồi quay đi.

Lần nào cũng thế, Nguyên nín thở cho đến khi đôi giày đi khuất.


Hôm ấy, rửa xong chồng bát trưa, Nguyên vét nồi.

Đáy nồi cơm có một lớp cơm cháy, vàng giòn, dày cả đốt ngón tay. Cạnh đó là nửa rá cơm nguội khách ăn không hết. Mọi ngày cô Mận vẫn đổ chỗ ấy cho con lợn nuôi sau quán.

Nguyên ngập ngừng một lúc lâu. Rồi nó cầm miếng cơm cháy đi lên gian trước.

– Cô Mận ơi.

– Gì?

– Chỗ cơm cháy với cơm nguội này… cháu xin mang đi có được không ạ?

Cô Mận đang đếm tiền, ngẩng lên nhìn nó, nhíu mày.

– Mang đi đâu? Mày ăn chưa no à?

– Cháu no rồi. Cháu mang cho người khác.

– Người nào?

Nguyên nuốt nước bọt.

– Ông đồ ngồi ở cổng chợ.

Cô Mận nhìn nó lâu hơn. Rồi cô cúi xuống đếm tiền tiếp, phẩy tay.

– Mang đi. Đằng nào con lợn cũng béo rồi.

Ông đồ ngồi ở cổng chợ phía nam, dưới mái hiên một ngôi nhà bỏ hoang. Nguyên đã để ý ông từ mấy hôm nay, mỗi lần đi đổ rác qua đấy. Ông già lắm, gầy lắm, râu thưa và bạc, mặc cái áo the đen đã bạc thành màu chì. Trước mặt ông trải một chiếc chiếu cói, trên chiếu có nghiên mực, mấy cây bút lông cắm trong ống tre, mấy tờ giấy đỏ viết sẵn câu đối. Chiếc chiếu đã cũ, mép chiếu sờn rách, nhưng được trải phẳng phiu, ngay ngắn.

Cả buổi chẳng có ai dừng lại. Người ta đi qua, liếc nhìn mấy tờ giấy đỏ, rồi đi tiếp. Ông đồ ngồi thẳng lưng, hai tay đặt trên gối, mắt nhìn ra phố, như chẳng mong ai dừng lại.

Nguyên đứng trước chiếu, tay cầm gói lá chuối đựng cơm.

Ông đồ không nhìn nó.

– Mua câu đối thì năm đồng. Viết thư thì ba đồng. – Ông đồ nói. Giọng ông khàn khàn, chậm rãi, nhả từng chữ một. – Có tiền không?

– Cháu không có tiền. – Nguyên nói. – Cháu muốn hỏi ông một chữ.

Lúc ấy ông đồ mới quay sang nhìn nó.

– Chữ gì?

– Cái biển ở cổng võ quán đầu chợ. Cái biển sơn đen, chữ vàng ấy ạ. Nó viết gì?

Ông đồ nhìn nó một lúc. Đôi mắt ông đục, mí mắt sụp xuống, nhưng cái nhìn thì sắc.

– Học chữ để đọc biển thôi à?

Nguyên không biết trả lời thế nào.

Ông đồ chậm rãi vuốt chòm râu thưa.

– Cái biển ấy chính tay ta viết. – Ông nói. – Hai mươi mấy năm trước, ông Cao mở võ quán, đến nhờ ta viết. Ta viết không lấy tiền, ông ấy đãi ta một bữa rượu. Hồi ấy võ quán còn là của ông ấy.

– Hồi ấy? – Nguyên hỏi lại. – Giờ không phải của thầy… của ông Cao nữa ạ?

– Giờ là của ông Hàn Thịnh. – Ông đồ nói, giọng không lên không xuống. – Chủ bè gỗ giàu nhất cái bến này. Ông Cao dạy thuê cho ông ấy. Người trong chợ vẫn quen miệng gọi là võ quán ông Cao, nhưng cái sân ấy, cái cổng ấy, đến cái biển ta viết ấy, giờ đều là của người khác.

Nguyên đứng im.

Nó nhớ lại tiếng quát của thầy Cao hôm ấy. Còn để tao thấy lần nữa thì tao bẻ gãy chân. Nhớ cả thằng béo mặc quần lụa cười to nhất sân, vỗ đùi đen đét. Nó nhớ thằng Cò từng nói: toàn con nhà buôn gỗ, con nhà chủ bè.

Giờ thì nó hiểu vì sao thầy phải quát to đến thế.

Ông đồ nhìn gói lá chuối trong tay nó.

– Cái gì đấy?

– Cơm ạ. Cơm cháy với cơm nguội. Cháu mang cho ông.

Ông đồ không đưa tay ra.

– Ta không nhận của bố thí. – Ông nói. Giọng ông vẫn chậm, nhưng cứng như đá. – Ta tuy nghèo, nhưng chưa phải đi xin.

Nguyên đứng ngẩn ra. Gói cơm trong tay nó bỗng nặng trĩu.

Ông đồ im lặng một lúc. Rồi ông nói tiếp:

– Thế này. Trò mang cơm, ta dạy chữ. Mỗi bữa cơm, một chữ. Thế là sòng phẳng. Không ai nợ ai.

Không ai nợ ai.

Nguyên nhớ đến cha đứng giữa sân nhà bá hộ, đổ hai thúng thóc xuống nền gạch.

Nó gật đầu thật mạnh, rồi đặt gói cơm lên mép chiếu, hai tay, như người ta đặt lễ lên bàn thờ.


Không có giấy. Giấy đắt, ông đồ chỉ để viết câu đối bán.

Ông đồ nhúng đầu ngón tay vào bát nước đặt cạnh nghiên, rồi viết lên mặt phiến đá kê dưới chiếu. Nét chữ hiện ra, ướt, sẫm màu trên mặt đá xám. Chỉ được một lúc, nắng hong khô, chữ lại biến mất. Muốn nhớ thì phải nhớ ngay.

Nguyên ngồi xổm bên cạnh, tay cầm một cái que, viết theo lên nền đất.

– Chữ đầu tiên. – Ông đồ nói. – Chữ "nhân". Là người.

Ông viết hai nét. Một nét chéo từ trên xuống bên trái. Một nét ngắn hơn, chéo xuống bên phải, tựa vào lưng nét kia.

Nguyên nhìn chữ ấy. Đơn giản hơn nó tưởng. Chỉ có hai nét.

– Chỉ thế thôi ạ?

– Chỉ thế thôi. – Ông đồ gật đầu. – Trò nhìn kỹ. Hai nét dựa vào nhau. Bỏ nét nào đi thì nét kia cũng ngã. Người ta cũng thế. Có dựa vào nhau mới đứng được.

Nguyên viết chữ "nhân" lên nền đất. Viết một lần. Rồi viết lần nữa. Rồi lần nữa. Nét đầu tiên nó viết cong, nét thứ hai nó viết dài quá. Nó xoá đi, viết lại.

Đến lần thứ mười, ông đồ nhìn xuống, gật đầu một cái.

Hôm sau, nó mang cơm đến, ông đồ dạy chữ thứ hai. Hôm sau nữa, chữ thứ ba. "Nhất", "nhị", "tam", một nét, hai nét, ba nét, dễ như đếm ngón tay. "Thuỷ", là nước. "Mộc", là cây. "Sơn", là núi, ba cái đỉnh nhô lên như ba ngọn núi thật.

Đến hôm thứ chín, Nguyên hỏi:

– Ông đồ ơi, tên cháu viết thế nào ạ?

– Tên trò là gì?

– Nguyên ạ.

– Nguyên nào? Nguyên là gốc, nguyên là đầu, nguyên là nguồn. Có nhiều chữ Nguyên lắm.

Nguyên nghĩ một lúc. Nó nhớ lời mẹ kể, lời mẹ đã kể đi kể lại không biết bao nhiêu lần: Cha vớt con dưới suối về. Cha bảo nước suối trôi nó về thì gọi là Nguyên.

– Cháu được vớt dưới suối lên ạ. – Nó nói. – Cha cháu bảo nước suối trôi cháu về, nên đặt là Nguyên.

Ông đồ im lặng một lúc lâu.

Rồi ông nhúng ngón tay vào bát nước, viết lên phiến đá. Chữ này nhiều nét hơn hẳn mấy chữ trước. Bên trái là ba chấm nhỏ, xếp dọc như ba giọt nước. Bên phải là một chữ khác, vuông vức, nhiều nét đan vào nhau.

– Ba chấm bên trái là nước. – Ông đồ nói, chỉ ngón tay vào từng nét. – Chữ bên phải cũng đọc là nguyên, nghĩa là cái gốc, chỗ ban đầu. Nước ở chỗ ban đầu của nó, là nguồn. Chỗ nước từ trong lòng núi chảy ra.

Nguyên nhìn chữ ấy trên mặt đá. Nắng đang hong khô dần ba giọt nước bên trái.

Nguồn.

Nó nghĩ đến con suối dưới chân Vân Lĩnh. Con suối nó đã ra ngồi bên bờ không biết bao nhiêu lần, nhìn nước chảy từ trên núi xuống, chảy mãi, chảy mãi, chẳng bao giờ trả lời nó điều gì.

Tên nó là cái chỗ nước ấy chảy ra.

– Ai đặt cho trò cái tên khéo thế. – Ông đồ nói khẽ.

Nguyên không trả lời. Nó cúi xuống, cầm que, viết chữ Nguyên lên nền đất. Nó viết chậm, từng nét một. Ba chấm nước. Rồi chữ gốc. Nó viết sai mất mấy nét, xoá đi, viết lại. Ông đồ không giục.

Đến khi nó viết đúng, trời đã chiều.


Ngày tháng trôi đi như nước sông Cái.

Mỗi trưa, Nguyên mang cơm đến cổng chợ. Mỗi trưa, nó học một chữ. Có hôm ông đồ cho nó học hai chữ, vì hôm ấy cô Mận cho thêm được miếng cá kho. Có hôm ông đồ chỉ bắt nó viết đi viết lại chữ hôm trước, vì nó viết chưa đẹp.

Nó viết khắp nơi. Viết bằng tro trên nền bếp, lúc chờ nồi nước sôi. Viết bằng ngón tay nhúng nước lên mặt bàn quán, lúc lau bàn. Viết bằng que trên đất ở sân sau, trước khi đứng tấn. Viết xong lại xoá, xoá xong lại viết. Cô Mận bắt gặp nó ngồi viết trên nền bếp, nhìn một lúc, rồi đi ra, không nói gì.

Thằng Cò cũng đòi học. Nó học được ba chữ. Chữ "nhất", chữ "nhị", chữ "tam". Đến chữ thứ tư, chữ "người", nó viết mãi không ra, hai nét cứ đè lên nhau.

– Thôi, tao chịu. – Thằng Cò ném cái que đi. – Chữ nó cứ bò lổm ngổm như kiến. Tao nhìn mãi mà chẳng thấy người đâu cả.

– Hai nét dựa vào nhau. – Nguyên nói. – Như thế này này.

– Dựa thì dựa. – Thằng Cò nằm ngửa ra nền gạch. – Tao dựa vào mày là được. Mày biết chữ thì đọc cho tao nghe.

Rằm tháng Ba, cha lại xuống đón. Rằm tháng Tư cũng thế. Mỗi lần về nhà, Nguyên lại mang theo một túi gạo nhỏ, một chuỗi tiền đồng. Mẹ lại cất tiền vào cái ống tre trên vách.

Lần về rằm tháng Tư, Bông kéo tay anh ra sân.

– Anh ơi, anh biết chữ rồi à? Mẹ bảo anh biết chữ rồi.

– Biết một ít.

– Anh viết tên Bông đi! Viết tên Bông!

Nguyên ngồi xổm xuống, nhặt một cái que. Chữ "Bông" không phải chữ Nho. Ông đồ bảo phải viết bằng chữ Nôm, chữ để ghi tiếng nói hằng ngày, ghép từ những chữ Nho mà thành. Ông đồ dạy nó chữ ấy chỉ vì nó hỏi. Nó viết chậm, nhớ từng nét, lên mặt sân đất nện trước hiên nhà.

Bông ngồi xổm bên cạnh, nhìn chằm chằm vào những nét que vạch lên mặt đất.

– Đây là Bông à?

– Ừ.

– Bông trông thế này à?

– Ừ.

Bông nhìn chữ ấy rất lâu. Rồi con bé cười, cười toe toét, cái răng cửa mới đã mọc dài thêm một chút.

– Đẹp quá! Chữ Bông đẹp quá!

Nó không cho ai giẫm lên chỗ ấy. Đến tận khi Nguyên đã theo cha xuống Bến Gỗ, chữ ấy vẫn còn nguyên trên sân, vì Bông lấy mấy cành tre khô cắm quanh làm rào.

Cha đứng ở hiên, nhìn chữ ấy. Ông nhìn hơi lâu. Rồi quay đi.


Đến cuối tháng Tư, Nguyên đã biết được hơn ba mươi chữ.

Nó không đọc được sách. Chưa đọc được. Một trang sách có cả trăm chữ, nó chỉ nhận ra được dăm chữ, còn lại vẫn là những con kiến bò lổm ngổm như thằng Cò nói. Nhưng ba mươi chữ ấy, chữ nào nó cũng viết được, đọc được, và hiểu nghĩa.

Có bốn chữ ông đồ dạy nó vào những ngày khác nhau, cách xa nhau, chẳng theo thứ tự nào. Chữ "trung", là ở giữa, một cái khung vuông có một nét sổ xuyên qua chính giữa. Chữ "hoà", là hoà thuận, có cây lúa đứng cạnh cái miệng. Chữ "võ", có bộ "chỉ", nghĩa là dừng lại. Ông đồ bảo: "Võ là để ngăn cái ác lại, không phải để gây ra cái ác." Chữ "quán", là cái nhà lớn, chỗ người ta đến.

Nguyên chưa từng ghép bốn chữ ấy lại với nhau.

Cho đến cái chiều hôm ấy.

Hôm ấy nó đi đổ rác qua đầu chợ. Nó đi ngang qua cổng võ quán như mọi ngày. Như mọi ngày, nó ngẩng lên nhìn tấm biển sơn đen.

Và nó dừng lại.

Những nét chữ thếp vàng trên tấm biển, những nét ngang, nét sổ, nét móc, nét phẩy, những nét mà mấy tháng trước nó nhìn chẳng khác gì một bức tranh vẽ bậy, giờ bỗng tách ra, đứng riêng từng chữ một.

Chữ thứ nhất. Một cái khung vuông, một nét sổ xuyên qua chính giữa.

Trung.

Chữ thứ hai. Cây lúa đứng cạnh cái miệng.

Hoà.

Chữ thứ ba. Chữ có bộ "chỉ", nghĩa là dừng lại.

Võ.

Chữ thứ tư. Cái nhà lớn, chỗ người ta đến.

Quán.

Nguyên đứng giữa đường, cái thúng rác vẫn còn ôm trước ngực, miệng mấp máy, đọc thành tiếng, rất khẽ, từng chữ một:

– Trung… Hoà… Võ… Quán.

Nó đọc lại lần nữa. Rồi lần nữa.

Trung Hoà Võ Quán.

Nó đọc được. Tấm biển mà nó đã đứng ngẩn ra nhìn ngày đầu tiên đặt chân đến Bến Gỗ, tấm biển mà cả thằng Cò lẫn mọi người trong chợ đều chỉ gọi là "võ quán ông Cao". Nó đọc được.

Bốn chữ ông đồ dạy vào bốn ngày khác nhau. Giờ thì nó hiểu vì sao ông đồ chẳng bao giờ chịu nói cho nó biết tấm biển viết gì.

Nguyên đứng ngẩng đầu nhìn tấm biển, quên cả thúng rác trên tay, quên cả người đi đường đang phải tránh nó.

Sau lưng nó, có tiếng bước chân dừng lại.

Rồi một giọng nói vang lên. Trầm, chậm, quen thuộc đến mức Nguyên không cần quay lại cũng biết là ai.

– Đọc được rồi à?