Chương 9: Giấy nhóm bếp
Đầu hè, nắng ở Bến Gỗ gắt như lửa.
Sáng nào sân tập bên kia tường cũng bốc lên mùi đất nện nóng hầm hập, trộn với mùi mồ hôi của mấy chục con người. Nguyên vẫn quỳ sau đống củi, ghé mắt vào lỗ gạch như mọi sáng. Đầu gối nó đã chai lên vì quỳ trên nền gạch nhám.
Sáng hôm ấy, sân tập khác mọi ngày.
Võ sinh không đứng thành hàng. Qua khung vuông nhỏ, Nguyên chỉ thấy những đôi chân đứng lố nhố, chen chúc nhau, như đang vây quanh một chỗ nào đó. Có tiếng xì xào. Rồi giọng thầy Cao vang lên, trầm và chậm:
– Ai gọi tên thì lên nhận.
Một cái tên được gọi. Một đôi chân bước lên, dừng lại một lúc, rồi lùi về. Lại một cái tên. Lại một đôi chân.
– Sách này là Trung Hoà Công. – Thầy Cao nói. – Công pháp nhập môn của võ quán. Ai đứng tấn đủ một nén hương không run thì mới được phát. Mỗi người một bản, chép tay, không được làm mất, không được cho người ngoài xem. Từ mai, học khẩu quyết.
Nguyên nín thở.
Công pháp.
Nó đã nghe người ta nói về công pháp. Nghe thằng Cò kể, nghe khách trong quán bàn tán. Công pháp là thứ biến người thường thành người tu luyện. Là thứ con nhà nghèo không bao giờ được chạm tay vào. Một cuốn công pháp hạ phẩm thôi, ngoài chợ cũng bán bằng cả mấy tháng tiền công của cô Mận.
Bên kia tường, thầy vẫn gọi tên. Nguyên đếm. Mười hai đôi chân lên nhận sách.
Rồi thầy gọi một cái tên nữa.
– Lộc.
Không có đôi chân nào bước lên.
– Lộc. – Thầy gọi lại.
– Con đứng được một nén hương rồi mà. – Một giọng nói vang lên, giọng con trai mới vỡ, ồm ồm, đầy vẻ khó chịu. Nguyên nhận ra ngay. Thằng béo mặc quần lụa. Thằng hét thằng ăn mày nhìn trộm. Thằng Cò bảo nó tên là Lộc, con trai ông Hàn Thịnh, người ta gọi là cậu Lộc. – Sao thầy gọi con sau cùng?
– Đứng được một nén hương, nhưng gối run từ giữa nén hương. – Giọng thầy Cao không lên không xuống. – Ta phát cho anh vì ông Hàn đã dặn. Nhưng mai anh đứng tấn thêm nửa nén hương nữa rồi mới được học khẩu quyết.
Im lặng.
Rồi có tiếng giấy xé.
Roạt.
Một tiếng. Rồi một tiếng nữa. Roạt. Roạt. Tiếng giấy bị xé mạnh tay, xé không thương tiếc, như xé một miếng vải rách.
– Tôi không thèm! – Giọng cậu Lộc gào lên. – Cái sách nát này nhà tôi mua được cả chục cuốn!
Có tiếng gì đó rơi xuống đất, tiếng giấy rơi lả tả.
– Lộc! – Thầy Cao quát.
Lần này thì thầy quát thật. Nguyên nghe rõ sự khác biệt. Không phải cái giọng to hơn mọi hôm để vọng qua tường. Mà là giọng của một người đang giận đến run tay.
Cậu Lộc không đáp. Nguyên chỉ thấy qua cái lỗ một đôi chân béo, đi giày lụa, giẫm lên mấy mảnh giấy trắng trên mặt đất, rồi quay ngoắt đi, bước thình thịch ra phía cổng.
Mấy mảnh giấy nằm lại trên mặt đất nện. Một mảnh bị gió thổi lật lên. Trên đó có hình vẽ gì đó, nét mực đen.
Rồi một đôi giày vải đen bước tới. Dừng lại. Cúi xuống. Những mảnh giấy được nhặt lên, từng mảnh một.
Chiều hôm ấy, khách vãn, Nguyên đang lau bàn ở gian ngoài thì thầy Cao bước vào quán.
Nguyên cứng người, cái giẻ lau dừng giữa mặt bàn.
Thầy chưa bao giờ vào quán cô Mận. Võ quán và quán cơm sát vách nhau bao nhiêu năm, nhưng Nguyên chưa từng thấy thầy bước qua ngưỡng cửa này. Thầy đi chợ thì đi thẳng ra chợ. Thầy ăn cơm thì ăn trong võ quán.
Hôm nay thầy bước vào, tay cầm một bó giấy.
– Cô Mận.
Cô Mận đang ngồi tính tiền ở cái bàn trong cùng, ngẩng lên. Cô hơi ngạc nhiên, rồi đứng dậy.
– Ông Cao. Ông ăn gì?
– Không ăn. – Thầy Cao đặt bó giấy lên bàn. – Giấy vụn. Cô cho nhóm bếp.
Đó là một bó giấy rách, nhàu nát, buộc túm lại bằng một sợi lạt. Có tờ rách đôi, có tờ chỉ còn một mẩu, có tờ còn dính vết đất và vết giày.
Cô Mận nhìn bó giấy, rồi nhìn thầy Cao. Cô không hỏi gì.
– Vâng. – Cô nói. – Cảm ơn ông.
Cô quay lại, gọi:
– Nguyên! Mang xuống bếp.
Nguyên bỏ cái giẻ lau xuống, bước tới. Nó cầm bó giấy lên. Nhẹ tênh. Nó cúi đầu, không dám ngẩng lên nhìn thầy.
Nhưng lúc nó quay đi, nó cảm thấy có một ánh mắt đặt lên người mình. Chỉ một thoáng. Như cái hôm ở bờ ao năm ngoái, người đàn bà dưới hàng tre nhìn nó.
Nguyên không ngoái lại. Nó đi thẳng xuống bếp.
Sau lưng, nó nghe tiếng thầy Cao bước ra khỏi quán. Không nói thêm câu nào.
Bếp lửa đang cháy đỏ. Nồi nước luộc rau trên bếp đang sôi lục bục.
Nguyên ngồi xổm trước miệng bếp, tháo sợi lạt buộc bó giấy. Nó rút một tờ ra, vò lại, định nhét vào lửa.
Rồi nó dừng tay.
Trên tờ giấy nhàu nát trong tay nó, có hình một người đang đứng tấn.
Hình vẽ bằng mực đen, nét mảnh, giản dị, nhưng rõ ràng. Hai chân dang rộng. Đầu gối khuỵu xuống. Lưng thẳng. Hai nắm tay đặt bên hông. Có mấy đường chấm nhỏ chạy từ mũi xuống bụng, như vẽ đường đi của hơi thở. Bên cạnh hình vẽ là mấy dòng chữ nhỏ, xếp dọc, kín đặc.
Nguyên nhìn hình vẽ ấy rất lâu.
Rồi nó vuốt phẳng tờ giấy trên đầu gối, gấp làm tư, nhét vào trong áo, cạnh chiếc lục lạc.
Nó gom cả bó giấy lại, buộc chặt sợi lạt, giấu vào trong đống củi khô sau bếp, sâu tận bên trong, chỗ không ai thò tay vào.
Rồi nó với lấy mấy cái lá chuối khô, nhét vào bếp. Lửa bùng lên.
Đêm ấy, khi cả quán đã ngủ, Nguyên lôi bó giấy ra.
Bếp lửa đã tắt, nhưng tro còn ấm, còn đỏ lờ mờ mấy hòn than. Nó ngồi sát miệng bếp, gạt tro ra cho than lộ lên, mượn cái ánh sáng đỏ quạch ấy mà xem.
Nó trải từng tờ giấy ra trên nền gạch.
Cậu Lộc đã xé không thương tiếc. Có tờ rách làm đôi, có tờ rách làm ba, có tờ chỉ còn một góc. Có những mảnh bị giẫm lên, vết giày lụa in rõ trên mặt giấy, mực nhoè đi. Nguyên phải ghép từng mảnh, như ghép những mảnh bát vỡ, lật đi lật lại, so mép rách với mép rách.
Mất gần hết nửa đêm, nó mới xếp được thành một chồng.
Rồi nó nhận ra: cuốn sách có hai phần.
Phần đầu, chiếm gần nửa cuốn, còn gần đủ. Trang nào cũng có hình vẽ. Hình người đứng tấn, hình người đấm, hình người cúi gập, hình người nằm ngửa giơ chân. Có những đường chấm vẽ đường đi của hơi thở, từ mũi xuống ngực, từ ngực xuống bụng, từ bụng xuống tận chỗ dưới rốn. Ở góc trên trang đầu tiên của phần này có hai chữ to, viết đậm hơn những chữ khác. Nguyên nhận ra một chữ. Chữ "thể", ông đồ đã dạy nó tuần trước. Chữ còn lại nó không biết.
Phần sau thì không còn gì.
Chỉ có những mẩu giấy vụn, mỗi mẩu to bằng bàn tay, có mẩu chỉ bằng ngón tay. Trên đó có chữ, nhưng chẳng mẩu nào ghép được với mẩu nào. Có mẩu còn sót lại nửa hình vẽ: một bàn tay đặt lên ngực, những đường chấm toả ra như rễ cây. Nhưng nửa còn lại thì không có.
Nguyên ngồi nhìn chồng giấy rất lâu.
Cuốn sách này không trọn vẹn. Nó biết thế. Nhưng phần đầu thì gần đủ. Và phần đầu có hình vẽ, những hình vẽ nó có thể nhìn mà hiểu, dù không đọc được chữ.
– Mày làm gì đấy?
Nguyên giật bắn người, vội vàng xoè hai tay che chồng giấy.
Thằng Cò đang bò ra từ góc bếp bên kia, mắt nhắm mắt mở, tóc rối bù. Nó nhìn Nguyên. Rồi nhìn chồng giấy dưới tay Nguyên. Rồi nhìn hình vẽ người đứng tấn lộ ra giữa kẽ ngón tay.
Mắt nó mở to.
– Cái gì đây? Sách võ à?
Nguyên không trả lời.
– Mày lấy trộm à? – Thằng Cò hạ giọng, nhìn quanh. – Mày lấy trộm của võ quán hả?
– Không. – Nguyên nói. – Thầy Cao mang sang. Bảo là giấy vụn, cho nhóm bếp.
Thằng Cò nhìn nó. Im lặng một lúc lâu. Rồi nó ngồi xuống cạnh Nguyên, khoanh chân, nhìn chồng giấy.
– Giấy vụn. – Nó lẩm bẩm. – Ông ấy mang giấy vụn sang cho nhóm bếp. Giấy vụn mà có hình người đứng tấn.
Nó quay sang nhìn Nguyên.
– Mày biết cái này mà lộ ra thì sao không? Thằng Lộc béo mà biết, nó bảo cha nó. Ông Hàn mà biết thì ông Cao mất việc. Cô Mận cũng mang vạ.
Nguyên gật đầu. Nó biết.
Thằng Cò thở dài, gãi đầu sồn sột.
– Thôi được. Tao không thấy gì cả. – Nó nói. – Tao ngủ mê. Mai tỉnh dậy tao quên sạch.
Rồi nó bò về góc bếp bên kia, nằm xuống, quay lưng lại.
Một lúc sau, giọng nó vọng ra trong bóng tối:
– Nhưng mà mày tập được cái gì hay thì nhớ dạy tao đấy.
Nguyên buộc chồng giấy lại bằng mấy sợi lạt, cẩn thận, chặt tay. Phần đầu riêng một xấp. Phần sau riêng một xấp. Rồi nó giấu cả hai xấp vào sâu trong đống củi.
Chỉ trừ trang đầu tiên của phần đầu. Trang có hình người đứng tấn và những đường chấm vẽ hơi thở.
Nó ra sân sau.
Trăng đầu tháng mảnh như sợi chỉ. Nó trải tờ giấy lên mặt chum nước, mượn ánh trăng mờ mờ mà xem lại hình vẽ. Rồi nó đứng vào giữa sân, làm theo.
Đứng tấn thì nó đã quen. Hai chân dang rộng. Đầu gối khuỵu xuống, không quá mũi chân. Lưng thẳng. Hai nắm tay đặt bên hông.
Nhưng hơi thở trong hình vẽ thì khác.
Không phải thở bằng bụng như thầy dạy, như nó vẫn thở mấy tháng nay. Những đường chấm trong hình vẽ đi sâu hơn. Từ mũi xuống ngực, từ ngực xuống bụng, rồi còn xuống thấp hơn nữa, xuống tận chỗ dưới rốn chừng ba ngón tay, rồi mới dừng lại. Và đường chấm hít vào ngắn, đường chấm thở ra dài, dài gấp đôi.
Nguyên thử.
Hít vào. Đẩy hơi xuống. Xuống ngực. Xuống bụng. Xuống thấp hơn nữa. Thấp nữa.
Khó. Hơi thở cứ dừng lại ở bụng, không chịu xuống nữa. Nó hít sâu hơn. Ngực nó căng lên, đau nhói. Nó thở ra, ho sặc sụa.
Nó thử lại.
Lần thứ mười, hơi thở mới chịu xuống được chỗ dưới rốn. Chỉ một chút thôi, rồi lại trôi lên. Nhưng lúc nó thở ra thật chậm, thật dài, như trong hình vẽ, nó thấy có cái gì đó khác. Hai bắp đùi đang đứng tấn bỗng nóng lên. Không phải cái nóng rát của cơ bắp mỏi như mọi đêm. Mà là một cái nóng âm ấm, lan ra từ bụng dưới, chạy xuống hai chân, chạy lên sống lưng.
Nó đứng như thế, hít ngắn, thở dài, cho đến khi trăng lặn.
Lúc nó đứng thẳng dậy, toàn thân nó nóng ran, mồ hôi ướt đẫm lưng áo dù đêm đã mát. Gân cốt nhức mỏi, nhưng là một kiểu nhức mỏi khác hẳn. Không phải cái mỏi rã rời, mà là cái mỏi như sau một ngày gánh lúa, mỏi mà thấy người chắc lại.
Nguyên không biết đó là gì. Nó không biết đó là thân thể nó đang được rèn đúng cách lần đầu tiên. Nó chỉ biết, sáng mai nó phải tập lại.
Trưa hôm sau, Nguyên mang cơm đến cổng chợ như mọi ngày.
Nhưng lần này, ngoài gói cơm, nó còn mang theo một tờ giấy gấp tư, giấu trong áo.
Ông đồ Lãng nhận gói cơm, đặt lên mép chiếu. Ông nhúng ngón tay vào bát nước, định viết chữ hôm nay lên phiến đá.
– Ông đồ ơi. – Nguyên nói nhỏ. – Hôm nay cháu… cháu muốn học chữ ở đây.
Nó rút tờ giấy trong áo ra, mở ra, đặt lên mép chiếu.
Ông đồ cúi nhìn tờ giấy. Nhìn hình người đứng tấn, nhìn những đường chấm vẽ hơi thở, nhìn những dòng chữ nhỏ xếp dọc kín đặc. Rồi ông ngẩng lên nhìn Nguyên, rất lâu, bằng đôi mắt đục mà sắc.
Ông không hỏi nó lấy tờ giấy ở đâu.
– Sách võ. – Ông nói.
– Vâng.
Ông đồ vuốt chòm râu thưa, nhìn xuống tờ giấy lần nữa.
– Sách võ cũng là sách. – Ông nói. – Chữ trong sách võ cũng là chữ thánh hiền. Được.
Ông đặt ngón tay lên dòng chữ đầu tiên, đọc từng chữ một, chậm rãi, giọng khàn khàn như đang đọc kinh. Nguyên không hiểu hết. Có những câu như khí theo tâm mà đi, thân như cây, gốc bám đất. Ông đồ đọc một câu, rồi giảng một câu, rồi bắt Nguyên đọc lại. Những chữ nó đã biết, ông bảo nó đọc trước. Những chữ nó chưa biết, ông viết lên phiến đá, bắt nó chép theo.
Hai chữ to ở góc trên trang, chữ "thể" nó đã biết. Chữ còn lại là chữ "luyện".
Luyện Thể.
Họ đi hết nửa trang thì ông đồ dừng lại.
Ngón tay ông đặt trên mép giấy, chỗ lề trái, cạnh hình vẽ người đứng tấn. Ở đó có một dòng chữ nhỏ, nhỏ hơn hẳn những chữ khác trên trang, viết chen vào khoảng trống giữa hình vẽ và mép giấy. Nguyên đã thấy dòng chữ ấy đêm qua, nhưng nó tưởng đó cũng là chữ trong sách.
Ông đồ cúi sát xuống, nheo mắt nhìn.
Mực của dòng chữ ấy khác. Mực trong sách đã cũ, đã ngả sang màu nâu xỉn. Còn mực của dòng chữ này đen nhánh, đen bóng như cánh quạ, như mới viết hôm qua.
Ông đồ đọc, rất chậm:
– Trẻ con phổi nhỏ. Thở chậm hơn sách một nhịp.
Nguyên ngẩn người.
Ông đồ không nói gì một lúc lâu. Ngón tay ông vẫn đặt bên cạnh dòng chữ ấy. Đôi mắt đục của ông dõi theo từng nét, nét ngang, nét sổ, nét móc, như người ta ngắm lại gương mặt một người quen cũ.
– Dòng này không phải chữ trong sách. – Ông đồ nói. – Mực còn mới.
Ông nhìn nét chữ thêm một lúc nữa. Rồi ông nói khẽ, như nói với chính mình:
– Chữ này là chữ ông Cao.