Lạc Hồng Tiên Lộ

Chương 10: Ông Chài

Tùng… tùng… tùng…

Tiếng trống đồng vang lên từ sân đình, trầm và dày, như tiếng sấm đầu mùa lăn qua mặt ruộng. Mỗi tiếng trống dội vào ngực người nghe một cái, rồi lan ra, lan mãi, qua lũy tre, qua cánh đồng, vọng tận lên chân núi.

Hội làng Chân Mây năm ấy họp vào một ngày đầu xuân trời nắng ráo.

Nguyên đứng ở rìa đám đông, hai tay khoanh trước ngực. Nó đã mười hai tuổi. Ba năm qua nó cao vọt lên, cao hơn cả thằng Quý con bá hộ, dù thằng Quý vẫn to bè hơn. Hai vai nó rộng ra, cánh tay rắn lại, nước da vẫn đen nhẻm vì nắng nhưng không còn cái vẻ gầy gò như con mắm khô năm nào. Cô Mận ở Bến Gỗ lần nào gặp cũng bảo nó lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cơm của cô cũng đáng.

Bông kéo tay áo nó, nhảy chân sáo.

– Anh ơi, lên trước đi! Đứng đây Bông chẳng thấy gì cả!

Bông đã chín tuổi. Tóc con bé vẫn vàng hoe, vẫn buộc hai chỏm bằng sợi chỉ đỏ, nhưng hai má đã đầy lên, không còn hóp lại như năm đói. Cái răng cửa sún năm nào đã mọc lại, trắng và đều.

– Ừ. Đi.

Nguyên dắt em lách qua đám đông, lên gần sân đình.

Giữa sân, mấy ông già trong làng đang khiêng chiếc trống đồng ra, đặt lên một cái giá gỗ sơn son. Chiếc trống ấy quanh năm nằm trong hậu cung đình, chỉ ngày hội làng mới được rước ra. Mặt trống rộng hơn cái nong, thân trống phình ra như cái bụng, màu đồng đã xỉn lại thành màu xanh rêu, chỗ nào bị sờ nhiều thì lại sáng bóng lên.

Một ông cụ cầm dùi, đánh thêm ba hồi. Tùng. Tùng. Tùng.

Rồi người ta bày lễ, thắp hương, khấn vái. Mùi trầm bay lên, quyện vào mùi bánh chưng, bánh giầy bày trên mâm.

Ở góc sân, mấy bà cụ ngồi têm trầu, chụm đầu vào nhau thì thầm. Nguyên đứng gần, nghe loáng thoáng. Năm nay bên Đồng Sậy lại mất một đứa. Năm kia làng trên mất hai. Đứa nào cũng lảng vảng gần chân núi lúc chạng vạng. Ma núi bắt đấy. Mấy bà cụ nói câu ấy như nói chuyện trời mưa, chuyện lúa lép, như một điều ai cũng biết mà chẳng ai làm gì được.

Nguyên chợt nhớ cái chiều năm tám tuổi ở quán nước gốc đa. Bốn năm rồi. Người ta vẫn nói đúng câu ấy.

Nguyên không nhìn mâm lễ. Nó nhìn mặt trống.

Ba năm trước, nó đã thấy chiếc trống này. Hồi ấy nó chỉ thấy một cái mặt đồng tròn, đầy những vạch ngang vạch dọc, hình nọ hình kia, chẳng hiểu gì. Giờ thì nó đã biết chữ. Không nhiều, chừng hơn trăm chữ, ông đồ Lãng dạy nó qua từng trang cuốn sách rách. Đủ để đọc được biển hiệu, đọc được câu đối, đọc lõm bõm những dòng khẩu quyết.

Nên giờ nó nhìn mặt trống bằng con mắt khác.

Giữa mặt trống là một ngôi sao nhiều cánh, như mặt trời đang toả nắng. Bao quanh ngôi sao là từng vòng, từng vòng hoa văn, vòng nọ lồng vòng kia. Có vòng là những con chim mỏ dài, cánh dang rộng, bay nối đuôi nhau quanh mặt trống. Có vòng là những người đội mũ cắm lông chim, tay cầm gì đó, đang nhảy múa. Có vòng là những ngôi nhà mái cong như con thuyền.

Và có một vòng nhỏ hơn, mảnh hơn, nằm sát ngôi sao. Những hình gì đó nhỏ li ti, đầu tròn, đuôi uốn cong, xếp san sát nhau. Trông như một đàn nòng nọc đang bơi.

Nguyên nheo mắt, nhìn vòng hoa văn ấy rất lâu.

Có cái gì đó trong những hình nòng nọc ấy khiến nó nghĩ đến chữ. Chúng không xếp lộn xộn như hoa văn. Chúng xếp thành từng cụm, cụm này cách cụm kia một khoảng, như những chữ trong một dòng sách cách nhau một khoảng.

Nó thử đọc.

Không được. Không hình nào giống chữ nào ông đồ đã dạy. Chữ ông đồ dạy có nét ngang, nét sổ, nét chấm, nét móc. Còn những hình này chỉ có đầu tròn và đuôi cong.

– Anh nhìn gì thế? – Bông hỏi.

– Mấy cái hình kia. Trông như chữ.

Bông nhón chân nhìn, rồi bĩu môi.

– Có phải chữ đâu. Con nòng nọc mà.

Ông thủ từ đứng gần đấy, nghe thấy, cười khà khà.

– Hoa văn đấy cháu ạ. Trống của tổ tiên để lại, từ thời nào chẳng ai nhớ. Ông nội ông ngày xưa cũng chỉ bảo là hoa văn.

Nguyên gật đầu. Chắc là hoa văn thật. Nó nhìn thêm một lúc nữa, rồi để Bông kéo đi xem đánh vật.


Chiều hội làng, cha ngồi ở hiên nhà đan rổ.

Từ năm ngoái, cha ngồi nhiều hơn đứng. Cái chân trái năm nào bị cây đè giờ đau gần như quanh năm, sáng ngủ dậy phải xoa bóp cả buổi mới đứng lên được. Cha không lên núi đốn củi được nữa. Cày cũng chỉ cày được dăm luống là phải nghỉ. Vì thế mùa thu năm ngoái, Nguyên thôi không đi ở cho cô Mận nữa mà về làng. Ruộng giờ là nó cày. Củi giờ là nó đốn. Mỗi tháng một lần, nó gánh củi xuống Bến Gỗ bán, ghé quán cô Mận ăn bát cơm, ngồi với ông đồ Lãng một lúc, nghe thằng Cò kể chuyện chợ, ngồi sau bếp nghe tiếng hô bên kia tường.

Cha không nói gì về chuyện ấy. Nhưng có lần Nguyên gánh củi về, cha nhìn đôi vai nó, nhìn gánh củi to hơn cả gánh của cha năm nào, rồi quay đi, lẩm bẩm gì đó chẳng ai nghe rõ.

Nguyên đi ngang qua hiên.

– Đi đâu? – Cha hỏi, không ngẩng lên.

– Con ra suối.

Cha không nói gì nữa. Ông chỉ gật đầu, tay vẫn đan rổ.


Con suối ấy vẫn như ba năm trước. Như năm năm trước. Như chín năm trước, cái năm có một đứa bé ba tuổi mắc vào cành cây giữa dòng.

Nước vẫn trong và lạnh, chảy từ trên núi xuống, chảy qua những tảng đá to như con trâu nằm, réo lên thành từng thác nhỏ, rồi lại lặng đi thành những vũng nước sâu xanh thẫm. Hai bên bờ là bãi đá cuội, lau sậy và mấy cây sung già nghiêng mình ra mặt nước.

Từ hồi bé, mỗi lần muốn ở một mình, Nguyên lại ra đây. Ba năm nay, mỗi lần ra đây, nó lại tập.

Nó trèo lên một tảng đá phẳng giữa bãi, đứng tấn. Hai chân dang rộng. Đầu gối khuỵu xuống, không quá mũi chân. Lưng thẳng. Hai nắm tay đặt bên hông.

Rồi nó thở.

Hít vào, ngắn. Đẩy hơi xuống, xuống ngực, xuống bụng, xuống tận chỗ dưới rốn. Thở ra, dài, thật dài, chậm hơn sách một nhịp, đúng như dòng chữ bằng mực đen bóng bên lề trang giấy năm nào. Ba năm nay nó vẫn thở như thế. Ba năm nay, sáng nào cũng thế, tối nào cũng thế.

– Thở thế là thở kiểu trẻ con.

Nguyên giật mình, suýt trượt chân khỏi tảng đá.

Nó quay phắt lại. Cách chỗ nó đứng chừng mười bước, trên một tảng đá sát mép nước, có một ông lão đang ngồi. Ông ngồi đấy từ bao giờ, Nguyên không biết. Lúc nó ra suối, nó chắc chắn không có ai.

Ông lão gầy, cao, lưng gù xuống như cây tre già bị gió uốn. Râu tóc bạc trắng, buộc túm sau gáy bằng một sợi lạt. Ông mặc cái áo nâu vá chằng vá đụp, vá đến mức chẳng còn nhận ra đâu là vải gốc. Tay ông cầm một cái cần câu tre, sợi dây câu thả xuống vũng nước xanh thẫm.

Nguyên biết ông lão này. Cả làng ai cũng biết. Ông Chài.

Không ai biết ông Chài từ đâu đến. Chỉ biết từ hồi Nguyên còn bé tí, ông đã dựng một cái lều tranh nhỏ ở khúc suối cao hơn, gần chân núi, rồi ở đó luôn. Quanh năm chỉ thấy ông ngồi câu cá, vá chài. Ông ít nói, hay cáu, đứa trẻ nào chạy lại gần lều ông là bị ông quát cho chạy mất dép. Người làng bảo ông dở hơi. Có người bảo ông là ma suối. Nguyên cũng từng thấy ông mấy lần, từ xa, một cái bóng gù lưng ngồi bất động ở khúc suối trên. Có lần nó tò mò lại gần, bị ông quát một tiếng, chạy mất.

Nguyên nhìn sợi dây câu. Lưỡi câu treo lơ lửng dưới mặt nước, trong veo, nhìn thấy rõ. Không có mồi.

– Cháu… – Nguyên ngập ngừng. – Ông bảo gì ạ?

Ông Chài không quay lại. Mắt ông vẫn nheo nheo nhìn mặt nước, như sắp ngủ gật.

– Ông bảo mày thở như đứa lên chín. – Giọng ông khàn khàn, cộc lốc. – Phổi mày to rồi. Còn thở chậm thế, hơi chưa xuống đến nơi đã hết.

Nguyên đứng ngây ra.

Trẻ con phổi nhỏ. Thở chậm hơn sách một nhịp.

Năm ấy nó chín tuổi. Giờ nó mười hai. Nó chưa bao giờ nghĩ đến chuyện ấy. Ba năm nay, nó cứ thế mà thở, như một con trâu cứ thế mà kéo cày theo lối cũ.

– Sao ông biết… – Nó buột miệng.

– Biết gì?

– Biết cháu thở chậm hơn.

Ông Chài nhún vai.

– Nhìn bụng mày thì biết. Bụng mày phình ra rồi còn chờ, chờ mãi mới xẹp xuống. Như cái ống bễ thủng.

Nguyên cúi xuống nhìn bụng mình, rồi lại ngẩng lên nhìn ông lão.


Từ hôm ấy, Nguyên ra suối nhiều hơn.

Nó không biết vì sao. Ông Chài chẳng mời nó. Ông cũng chẳng đuổi nó. Nó ra, ông vẫn ngồi câu. Nó tập, ông vẫn ngồi câu. Thỉnh thoảng ông nói một câu, cộc lốc, chẳng đầu chẳng đuôi. Nhưng câu nào cũng làm nó nghĩ mất cả buổi.

Có một hôm, nó đang tập thì ông Chài hỏi:

– Mày nhìn dòng nước kia.

Nguyên nhìn. Dòng suối chảy xiết qua một tảng đá to giữa lòng suối, nước tung bọt trắng xoá.

– Nước gặp đá thì làm gì?

– Dạ… nước chảy vòng qua.

– Thế đá có cản được nước không?

Nguyên nghĩ một lúc.

– Cản được ạ. Nước phải chảy vòng.

– Thế nước có thua đá không?

Nguyên nhìn tảng đá. Mặt đá chỗ nước xối vào nhẵn thín, lõm xuống thành một vệt cong. Nó chợt nhớ cái ngưỡng cửa đá nhà bá hộ Lưu, chỗ chân người qua lại mấy chục năm cũng mòn vẹt đi như thế.

– Không ạ. – Nó nói chậm. – Đá mòn.

Ông Chài không khen. Ông chỉ ừ một tiếng trong cổ họng, rồi lại nhìn mặt nước.

Hôm khác, ông hỏi:

– Mày tập theo sách à?

Nguyên khựng lại. Nó chưa bao giờ nói với ai trong làng chuyện cuốn sách rách. Cả cha cũng chỉ biết nó học võ, không biết nó có sách.

Ông Chài liếc sang nó, một thoáng, rồi lại nheo mắt.

– Cái thế đứng ấy là thế đứng của sách. Người tự học không đứng thế. Thôi, ông không hỏi sách của ai. Ông chỉ bảo mày một câu. Đẩy hơi xuống đan điền thì phải đẩy bằng ý, đừng đẩy bằng bụng. Đẩy bằng bụng thì hơi xuống được, nhưng không ở lại.

– Đan điền là gì ạ?

Ông Chài im lặng một lúc. Như thể chính ông cũng không ngờ mình vừa nói ra hai chữ ấy.

– Cái chỗ dưới rốn ba ngón tay. – Ông nói, giọng cộc hơn. – Hỏi lắm.

Nguyên không hỏi nữa. Nhưng tối ấy về, nó lật cuốn sách rách ra, tìm mãi, và tìm thấy hai chữ "đan điền" ở một trang khẩu quyết, hai chữ mà ông đồ Lãng đã đọc cho nó nghe nhưng nó chưa hiểu nghĩa.

Một ông lão đánh cá, dở hơi, câu cá không mồi. Mà lại biết hai chữ ấy.


Chiều hôm ấy trời nắng gắt. Nguyên tập xong, mồ hôi chảy ròng ròng, cổ họng khô khốc.

Nó trèo xuống khỏi tảng đá, quỳ bên mép nước, vốc nước suối lên uống. Nước lạnh buốt, ngọt lịm. Nó vốc thêm vốc nữa, vã lên mặt, vã lên cổ. Nó cúi rạp xuống, cổ áo trễ ra, để nước mát chảy từ gáy xuống lưng.

Sau lưng nó, có tiếng tõm.

Nguyên quay lại.

Cái cần câu tre của ông Chài đã rơi xuống nước. Nó trôi lững lờ trên mặt vũng nước xanh thẫm, sợi dây câu không mồi vướng vào một nhánh lau.

Ông Chài vẫn ngồi trên tảng đá. Nhưng ông không nhìn cái cần câu.

Ông đang nhìn Nguyên.

Không phải cái nhìn nheo nheo như sắp ngủ gật như mọi khi. Đôi mắt ông mở to, mở to hết cỡ. Và Nguyên giật mình nhận ra, đôi mắt ấy sắc như một lưỡi dao vừa rút ra khỏi vỏ. Nó lạnh hơn cả nước suối. Nó vẫn dán vào chỗ cổ áo Nguyên trễ xuống, như vẫn còn thấy cái gáy vừa cúi rạp bên mép nước, chỗ có vết sẹo tròn to bằng đồng tiền.

Nguyên đưa tay lên sờ gáy theo thói quen. Vết sẹo vẫn ở đó, nhẵn và hơi lõm.

Ông Chài chớp mắt.

Đôi mắt ông lại nheo lại, nhanh đến mức Nguyên không chắc mình vừa thấy gì. Ông cúi xuống, thò tay vớt cái cần câu lên. Nguyên thấy bàn tay trái của ông, bàn tay chỉ còn ba ngón, run lên khi nắm lấy thân cần.

Ông quay mặt đi, nhìn về phía núi. Vân Lĩnh chiều nay mây trắng phủ kín đỉnh, chỉ để lộ những sườn rừng xanh thẫm.

– Về đi. – Ông nói. Giọng ông khác hẳn. Không còn cộc lốc, không còn khàn khàn. Mà trầm, rất trầm, như từ đâu dưới đáy giếng vọng lên. – Trời sắp tối.

Trời chưa tối. Mặt trời còn cao bằng ngọn tre.

Nhưng Nguyên không cãi. Có cái gì đó trong giọng nói ấy khiến nó không dám cãi. Nó đứng dậy, chào ông một tiếng, rồi đi về.

Đi được một quãng, nó ngoái lại.

Ông Chài vẫn ngồi trên tảng đá, lưng gù, quay mặt về phía núi. Ông không câu cá nữa. Cái cần câu đặt ngang trên đùi. Ông cứ ngồi im như thế, như một hòn đá bên suối.


Đêm ấy, Nguyên nằm mãi không ngủ được.

Nó nghĩ đến đôi mắt ông Chài. Đôi mắt sắc như dao. Đôi mắt nhìn chằm chằm vào gáy nó. Nó nghĩ đến bàn tay ba ngón run rẩy. Nghĩ đến cái giọng trầm như dưới đáy giếng.

Nó đưa tay ra sau gáy, lần theo vết sẹo.

Đêm ấy, lần đầu tiên sau nhiều tháng, nó lại mơ thấy căn phòng đá.


Sáng hôm sau, trời vừa hửng, Nguyên đã ra suối.

Nó không chắc ông Chài có ở đó không. Nó nghĩ có khi ông sẽ không ra nữa. Có khi ông sẽ đuổi nó đi như đuổi lũ trẻ con chạy lại gần lều ông.

Sương sớm còn giăng trên mặt suối. Bãi đá ướt đẫm. Và trên tảng đá sát mép nước, ông Chài đã ngồi đó từ trước.

Cái cần câu tre thả xuống vũng nước xanh thẫm. Lưỡi câu trong veo, không mồi.

Ông không quay đầu lại. Ông nói, giọng đã trở lại cộc lốc, khàn khàn như mọi khi:

– Đến muộn. Ngồi xuống. Thở lại cho ông xem.