Lạc Hồng Tiên Lộ

Chương 11: Bài học bên suối

– Ngồi xuống.

Nguyên ngồi xuống tảng đá. Ông Chài không nhìn nó, vẫn nheo mắt nhìn sợi dây câu không mồi thả xuống vũng nước.

– Nhắm mắt lại.

Nguyên nhắm mắt.

– Mày nghe thấy gì?

– Dạ… tiếng nước.

– Nước thế nào?

Nguyên nghe. Tiếng suối réo qua những tảng đá phía trên, ào ào, rồi lặng đi khi đổ vào vũng nước sâu, rồi lại róc rách khi tràn qua bãi cuội phía dưới.

– Chỗ thì to, chỗ thì nhỏ. Chỗ nhanh, chỗ chậm ạ.

– Thế nước có lúc nào đứng lại không?

– Không ạ.

– Thế nó có lúc nào phải cố không?

Nguyên nghĩ một lúc.

– Không ạ. Nó cứ chảy theo lòng suối thôi.

– Ừ. – Ông Chài nói. – Hơi trong người mày cũng thế. Mày cứ đẩy nó, ép nó, bắt nó xuống. Nó xuống được, rồi nó lại trôi lên, vì nó không muốn ở đấy. Đừng đẩy. Để ý mày đi trước, như lòng suối. Hơi tự khắc theo sau, như nước.

Nguyên mở mắt ra.

– Cháu không hiểu.

– Thì ngồi đến khi hiểu. – Ông Chài nói, rồi không nói gì nữa.

Nguyên ngồi.

Nó ngồi cả buổi sáng hôm ấy. Hít vào, thở ra. Nó cố không đẩy hơi xuống. Nhưng hễ không đẩy thì hơi chỉ quanh quẩn ở ngực, chẳng chịu xuống đâu. Mà hễ đẩy thì lại thành ra như cũ.

– Lại. – Ông Chài nói, không quay đầu.

Nó thở lại.

– Lại.

Lại.

Hôm sau cũng thế. Hôm sau nữa cũng thế. Ông Chài không giảng thêm một chữ nào. Chỉ có một chữ "lại", cộc lốc, khàn khàn, như tiếng quạ kêu.

Đến ngày thứ bảy, Nguyên ngồi trên tảng đá, mắt nhắm, nghe tiếng suối. Nó đã chán đẩy hơi. Nó chỉ ngồi đó, nghe nước chảy qua đá, nghe nước tràn qua cuội. Tay nó, chẳng biết từ lúc nào, đã luồn vào túi áo trong, ngón cái miết đi miết lại trên mặt bạc nhẵn của chiếc lục lạc, như mỗi lần nó ngồi một mình. Và rồi, không biết từ lúc nào, nó không nghĩ đến hơi thở nữa. Nó nghĩ đến chỗ dưới rốn ba ngón tay. Chỉ nghĩ thôi, như người ta nghĩ đến nhà mình lúc đi xa.

Hơi thở trôi xuống. Chậm, nhẹ, như nước tràn vào chỗ trũng. Và nó ở lại đó.

Nguyên mở mắt ra, ngơ ngác.

Ông Chài vẫn nheo mắt nhìn mặt nước.

– Ừ. – Ông nói.

Chỉ một tiếng. Nhưng Nguyên thấy ngực mình nóng lên, như vừa được ai khen một câu thật dài.


Tháng thứ hai, ông Chài bắt nó xuống suối.

– Cởi áo ra. Lội xuống. Đứng giữa dòng.

Nguyên lội xuống. Nước suối đầu hè vẫn còn lạnh, ngập đến đùi nó, xiết vào chân. Nó phải đứng tấn mới khỏi bị nước đẩy ngã.

– Bắt con cá cho ông.

– Bằng gì ạ?

– Bằng tay.

Nguyên nhìn xuống nước. Nước trong vắt, nhìn thấu tận đáy cuội. Cá suối bơi lượn lờ quanh chân nó, từng đàn, cá chát, cá trôi, có cả mấy con cá chuối đen trũi nằm im dưới gốc rễ cây. Nó cúi xuống, chộp một cái thật nhanh.

Đàn cá tan biến. Tay nó chỉ nắm được một nắm nước.

Ông Chài ngồi trên bờ, không cười, không nói.

Nguyên chộp lần nữa. Hụt. Lần nữa. Hụt.

Nó bắt hụt cả buổi sáng hôm ấy. Rồi cả ngày hôm sau. Rồi cả tháng. Hồi bé, nó mò cua giỏi hơn cả mẹ. Nhưng cua thì nằm im trong hang, còn cá thì bơi.

Có một hôm, nó tức quá, đập tay xuống nước một cái thật mạnh. Nước bắn tung toé, đàn cá chạy mất tăm.

– Mày nhìn cá ở đâu? – Ông Chài hỏi.

– Ở chỗ con cá ạ.

– Đồ ngốc. Lúc mày nhìn thấy cá, cá đã không còn ở đấy nữa rồi.

Nguyên đứng giữa suối, nước chảy xiết qua đùi, ngẩn ra.

– Nhìn nước. – Ông Chài nói. – Nhìn bóng. Cá bơi thì nước đổi màu trước. Bóng cá đi trước thân cá. Mày nhìn chỗ cá sắp đến, chứ đừng nhìn chỗ cá đang ở.

Nguyên nhìn nước.

Mới đầu, nó chẳng thấy gì khác. Nước vẫn trong, vẫn chảy. Nhưng nhìn lâu, nhìn mãi, nó bắt đầu thấy. Chỗ này mặt nước gợn lên khác chỗ kia. Chỗ này có cái bóng mờ mờ lướt qua đáy cuội, nhanh như một làn khói. Và cái bóng ấy luôn đi trước một chút, một chút thôi.

Một buổi chiều cuối tháng, nó đứng im giữa dòng rất lâu, lâu đến mức đàn cá quên mất nó, bơi lượn sát chân nó. Nó thấy một cái bóng mờ lướt về phía một hốc đá. Nó không nhìn con cá. Nó nhìn cái hốc đá. Tay nó thò xuống, chờ sẵn ở đó.

Con cá bơi thẳng vào lòng bàn tay nó.

Nguyên bóp chặt. Con cá giãy đành đạch, đuôi quẫy nước bắn vào mặt nó. Một con cá chát to bằng ba ngón tay, vảy bạc lấp lánh dưới nắng chiều.

Nó giơ con cá lên, quay về phía bờ, miệng toe toét.

Ông Chài liếc nhìn con cá, rồi nhìn nó.

– Cá không chạy chỗ mày nhìn. – Ông nói. – Cá chạy chỗ nó sợ. Mày đứng im thì nó không sợ mày. Nó chỉ sợ hòn đá kia, cái bóng cây kia. Thế là nó chạy vào tay mày.

Rồi ông quay đi, nhìn mặt nước.

– Thả nó ra.

Nguyên ngớ người.

– Ông không ăn ạ?

– Ông bảo mày bắt. Ông có bảo ông ăn đâu.

Nguyên nhìn con cá đang giãy giụa trong tay mình. Rồi nó cúi xuống, thả con cá vào nước. Con cá vẫy đuôi một cái, biến mất.


Sang tháng thứ ba, ông Chài cầm cái cần câu lên.

Ông đứng dậy, lần đầu tiên Nguyên thấy ông đứng thẳng. Lưng ông vẫn gù, nhưng khi ông cầm cái cần câu bằng hai tay, ngang trước ngực, cả người ông bỗng như khác hẳn. Như một cái cây khô bỗng đâm rễ xuống đất.

– Tránh.

Chưa kịp hiểu, Nguyên đã bị đầu cần câu gõ vào vai. Không đau lắm. Nhưng nhanh đến mức nó không thấy đầu cần câu đến từ đâu.

– Tránh.

Gõ vào đùi.

– Tránh.

Gõ vào đầu.

Nguyên ôm đầu, nhăn nhó. Nó nhìn chằm chằm vào đầu cần câu, cố đoán nó sẽ đến từ đâu. Nhưng đầu cần câu cứ đến từ chỗ nó không ngờ nhất. Lúc thì từ trên xuống. Lúc thì từ dưới lên. Lúc thì quét ngang. Cái cần câu tre trong tay ông lão gù lưng này lúc như cây côn, lúc như cây roi, lúc lại như con rắn.

Cả buổi hôm ấy, nó bị gõ không biết bao nhiêu lần. Tối về, mẹ nhìn mấy vết lằn đỏ trên tay, trên vai nó, hỏi làm sao. Nó bảo trèo cây ngã.

Ngày thứ năm, ông Chài dừng tay.

– Mày nhìn đâu?

– Cháu nhìn đầu cần ạ.

– Đồ ngốc. – Ông Chài lại nói. – Lại như con cá. Lúc mày thấy đầu cần, nó đã đến chỗ mày rồi. Đừng nhìn đầu cần. Nhìn vai ông.

– Vai ông?

– Cần câu không tự đi. Tay đưa nó đi. Tay không tự đi. Vai đưa tay đi. Mày nhìn vai, thì biết tay sắp đi đâu. Biết tay sắp đi đâu, thì biết cần sắp đến đâu.

Ông lại cầm cần câu lên.

Nguyên không nhìn đầu cần nữa. Nó nhìn vai ông Chài. Hai bờ vai gầy, xương xẩu, dưới lớp áo nâu vá chằng vá đụp.

Vai phải ông nhích lên một chút.

Nguyên nghiêng người sang trái.

Đầu cần câu vụt qua sát mặt nó, gió phả vào má.

Hụt.

Nguyên đứng sững, không tin được. Ông Chài cũng dừng tay. Ông nhìn nó, một thoáng, rồi lại nheo mắt.

– Ăn may. – Ông nói. – Lại.

Lần sau, nó lại bị gõ. Lần sau nữa cũng bị gõ. Nhưng thỉnh thoảng, một lần trong mười lần, rồi hai lần trong mười lần, nó tránh được.


– Anh Nguyên! Anh Nguyên ơi!

Bông lon ton chạy dọc bờ suối, tay cầm một gói lá chuối, hai chỏm tóc vàng hoe ngúng nguẩy. Từ hôm nhìn thấy mấy vết lằn trên tay anh, con bé cứ đòi đi theo, đòi xem anh "trèo cây" ở đâu. Nguyên cấm mãi không được.

Ông Chài nghe tiếng, ngẩng lên. Mặt ông nhăn lại như quả táo tàu khô.

– Đứa nào đấy?

– Dạ, em cháu ạ.

– Đuổi về. – Ông Chài gắt. – Ông không thích trẻ con.

Bông đã chạy đến nơi. Con bé thở hổn hển, mặt đỏ bừng. Nó nhìn ông Chài, cái ông lão mà cả làng bảo là ma suối, đứa trẻ nào lại gần lều ông là bị quát cho chạy mất dép.

Nó không chạy.

Nó đi thẳng đến trước tảng đá ông Chài ngồi, chìa gói lá chuối ra bằng cả hai tay.

– Cơm này Bông mang cho ông.

Ông Chài nhìn gói lá chuối. Rồi nhìn Bông.

– Ông không ăn. Về đi.

– Phần cơm của Bông đấy. – Bông vẫn chìa tay ra. – Bông để dành từ trưa. Có muối vừng nữa.

– Ông bảo về đi, cái con bé này.

Ông Chài quay mặt đi, nhìn ra suối.

Bông đứng đó một lúc, hai tay vẫn chìa ra. Rồi con bé đặt gói cơm lên mép tảng đá, sát cạnh chỗ ông Chài ngồi, rất cẩn thận, như đặt lễ lên bàn thờ.

– Bông để đây nhé. – Nó nói. – Ông đói thì ông ăn.

Rồi nó quay sang anh, cười toe, chạy biến về phía làng.

Ông Chài không nhìn gói cơm. Cả buổi chiều hôm ấy, ông không nhìn gói cơm lấy một lần. Lúc Nguyên về, gói cơm vẫn nằm nguyên trên mép tảng đá.

Sáng hôm sau, Nguyên ra suối. Gói cơm không còn đấy nữa. Chỉ còn mấy hạt vừng rơi vãi trên mặt đá.

Ông Chài vẫn ngồi câu, mặt lạnh tanh. Nguyên không hỏi.

Tối hôm ấy về nhà, Bông đã đứng chờ ở đầu ngõ, chạy ra níu tay anh.

– Ông ấy có ăn không anh?

– Có. – Nguyên nói. – Sáng nay hết sạch.

Bông reo lên một tiếng, nhảy cẫng lên như vừa được ai cho quà.

– Bông biết mà! Ông ấy gầy thế, chắc ông ấy đói lắm. – Con bé nghiêng đầu nghĩ một lúc. – Mà anh ơi, người ta bảo ông ấy là ma suối. Ma có ăn cơm không?

– Ông ấy không phải ma.

– Bông cũng nghĩ thế. – Bông gật gù, rất nghiêm túc. – Ma thì ai lại ăn cả muối vừng.

Từ hôm ấy, cứ dăm bữa nửa tháng, Bông lại mang cơm ra suối. Ông Chài lần nào cũng quát, lần nào cũng không cầm. Và lần nào, sáng hôm sau, gói cơm cũng biến mất.


Giữa hè, một buổi chiều oi ả, Nguyên tập quá sức.

Ông Chài đã bỏ về lều từ sớm, để nó tập một mình. Nó đứng tấn, thở bằng ý như ông dạy, rồi đấm, rồi đá, rồi lại đứng tấn. Nó muốn đứng lâu hơn hôm qua. Muốn đấm nhiều hơn hôm qua. Mặt trời đã ngả về tây mà nó vẫn chưa dừng.

Rồi đột nhiên, trời đất quay cuồng.

Hai chân nó khuỵu xuống. Tai nó ù đi. Trước mắt nó tối sầm lại, chỉ còn những đốm sáng nhảy múa. Nó ngã quỵ xuống bãi đá, hai tay chống xuống đất, thở hồng hộc.

Có tiếng bước chân lạo xạo trên bãi cuội.

Một bàn tay nắm lấy cổ tay nó. Bàn tay gầy, xương xẩu, chai sần. Bàn tay trái, chỉ có ba ngón.

Nguyên ngẩng lên. Ông Chài đang ngồi xổm trước mặt nó, không biết từ lúc nào. Ông không nhìn nó. Ông nhắm mắt lại, hai ngón tay đặt lên cổ tay nó, ấn nhẹ, như các ông lang trong làng vẫn làm khi bắt mạch.

Ông ngồi như thế rất lâu.

Nguyên thấy hai hàng lông mày bạc của ông nhíu lại. Nhíu chặt hơn. Rồi chặt hơn nữa. Cái trán nhăn nheo của ông hằn lên mấy nếp sâu như những luống cày.

Rồi ông buông tay ra.

Ông không nói gì. Ông chỉ đứng dậy, lấy cái bầu nước đeo bên hông đưa cho nó. Nguyên uống ừng ực. Nước mát lạnh trôi xuống cổ họng, mấy đốm sáng trước mắt dần tan đi.

Ông Chài ngồi xuống tảng đá bên cạnh nó. Ông nhìn ra suối. Lâu lắm.

– Mày có hay nằm mơ không? – Ông hỏi. Giọng ông bình thản, như hỏi chuyện trời mưa trời nắng.

Nguyên khựng lại.

Nó chưa kể với ai. Chưa bao giờ. Không kể với cha, sợ cha bảo nó ăn no rửng mỡ. Không kể với mẹ, sợ mẹ lo mất ngủ. Không kể với Bông, sợ con bé không dám ngủ một mình. Không kể với thằng Cò, không kể với cô Mận, không kể với ông đồ Lãng.

Nó nhìn ông Chài. Ông lão gầy gò, gù lưng, áo vá chằng vá đụp, ngồi nhìn ra suối. Cái ông lão mà mấy tháng nay đã bắt nó ngồi nghe tiếng nước, đã bắt nó đứng giữa dòng bắt cá, đã gõ cần câu vào đầu nó không biết bao nhiêu lần. Cái ông lão đã lặng lẽ ăn những nắm cơm Bông mang đến.

– Có ạ. – Nó nói. – Một giấc mơ. Cháu mơ mãi một giấc mơ.

Ông Chài không quay lại.

– Kể đi.

Và Nguyên kể.

Nó kể về căn phòng đá. Tối và lạnh, nền đá lạnh như nước giếng giữa mùa đông. Mùi thuốc đắng, hăng, đặc đến mức hít vào là cổ họng rát lên. Tiếng trẻ con khóc, không phải một đứa mà nhiều đứa, rồi tắt dần, từng tiếng một, như có ai đi dọc căn phòng thổi tắt từng ngọn đèn. Và bàn tay đặt lên gáy nó, bàn tay còn lạnh hơn cả đá.

Nó kể chậm, kể từng chút một. Kể xong, nó thấy cổ họng mình khô khốc, như vừa gánh một gánh nặng đi một quãng đường xa.

Ông Chài không nói gì.

Ông ngồi đó, mặt quay về phía núi. Vân Lĩnh chiều nay mây trắng quấn ngang sườn, đỉnh núi nhuộm hồng ánh hoàng hôn. Ông nhìn đỉnh núi ấy không chớp mắt. Bàn tay trái ba ngón của ông nắm chặt lấy đầu gối, chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra.

Ông im lặng rất lâu. Lâu đến mức mặt trời tụt xuống sau rặng tre, lâu đến mức tiếng ve trên cây sung đã tắt.

Rồi ông hỏi:

– Mày kể chuyện này với ai chưa?

– Chưa ạ. Ông là người đầu tiên.

Ông Chài quay lại.

Lần thứ hai, Nguyên nhìn thấy đôi mắt ấy. Đôi mắt mở to, sắc như một lưỡi dao vừa rút ra khỏi vỏ, lạnh hơn cả nước suối. Nhưng lần này, trong đáy mắt ấy còn có một thứ khác. Một thứ Nguyên chưa từng thấy trong mắt ông lão. Nó không biết gọi là gì.

– Thế thì đừng bao giờ kể. – Ông Chài nói. Giọng ông trầm, rất trầm, như từ đâu dưới đáy giếng vọng lên. – Với ai cũng không.