Chương 12: Tiếng mõ
Lại một mùa gặt.
Cánh đồng làng Chân Mây vẫn vàng như mọi năm, vẫn gợn sóng theo gió như mọi năm. Cầm lên tay vẫn nhẹ tênh. Lúa vẫn lép. Đất vẫn bạc. Mười mấy năm rồi, giờ đã gần hai chục năm, chẳng có gì đổi khác.
Chỉ có người gặt là khác.
Nguyên đi trước, tay trái túm gốc lúa, tay phải đưa liềm. Mỗi nhát liềm kêu soạt một tiếng gọn ghẽ. Nó gặt nhanh, nhanh gấp đôi cha năm nào, mà lưng không mỏi, tay không run. Đến trưa, nó đã gặt xong thửa ruộng dưới, cái thửa mà sáu năm trước cha với nó phải gặt mất hai ngày.
Cha ngồi trên bờ ruộng, chân trái duỗi thẳng ra, xoa xoa đầu gối. Ông không xuống ruộng được nữa. Chỉ ngồi trên bờ bó lúa, nhìn.
– Chậm thôi. – Cha nói. – Gặt nhanh thế, lúa nó cũng chẳng chắc thêm hạt nào.
Nguyên không chậm lại. Nhưng nó cười.
Hai năm. Hai năm nay, sáng nào nó cũng ra suối. Ông Chài vẫn gõ cần câu vào nó, nhưng giờ thì mười lần nó tránh được bảy, tám lần. Cá suối giờ nó bắt như người ta nhặt quả rụng. Đứng tấn, nó đứng được cả canh giờ, hai chân cắm xuống đất như cọc tre, không rung không chuyển. Phần Luyện Thể trong cuốn sách rách, nó đã thuộc lòng từng chữ, từng hình vẽ, đến mức nhắm mắt cũng vẽ lại được.
Nó mười bốn tuổi. Cao hơn cha nửa cái đầu.
– Anh Nguyên! Cha ơi!
Bông đội nón, gánh hai cái ấm nước, đi thoăn thoắt trên bờ ruộng. Bông đã mười một tuổi. Con bé lớn phổng phao, chân tay nhanh nhẹn, gánh nước ra đồng mà không đổ giọt nào, không phải lè lưỡi ra vì cố như ngày xưa. Mái tóc vàng hoe buộc gọn một túm sau gáy, không còn là hai chỏm như hồi bé.
Bông đặt gánh xuống, rót nước ra bát cho cha, cho anh.
– Anh gặt xong thửa dưới rồi à? Nhanh thế! – Con bé tròn mắt. – Mai anh gặt nốt thửa trên, rồi Bông với anh ra suối bắt cá nhé?
– Ừ.
Bông cười toe. Cái răng cửa mọc lại năm nào giờ trắng và đều.
Tiếng mõ vang lên lúc chiều.
Cốc cốc cốc. Cốc cốc cốc.
Ông mõ làng đi dọc con đường đất, vừa đi vừa gõ. Ông gầy nhẳng, lưng còng, đầu chít khăn, cái mõ tre treo trước ngực bằng một sợi dây gai. Người làng gọi ông là ông mõ. Chẳng ai nhớ tên thật của ông. Nhà nào có việc, làng nào có lệnh, ông lại đi khắp ngõ trên xóm dưới mà gõ, mà rao.
Cốc cốc cốc.
– Loa loa loa! – Giọng ông ồ ồ, vang khắp cánh đồng. – Bà con cô bác nghe đây! Rằm tháng Mười này, Vân Lĩnh Môn trên núi xuống làng ta tuyển đệ tử! Trẻ con trai gái từ mười tuổi đến mười lăm tuổi, đứa nào muốn thì ra đình thử! Đứa nào được chọn, nhà được thưởng tiền, thưởng gạo! Loa loa loa!
Cả cánh đồng như sôi lên.
Người đang gặt đứng thẳng dậy. Người đang bó lúa ngừng tay. Đàn bà con gái chụm đầu vào nhau xì xào. Mấy đứa trẻ chăn trâu trên bờ đê bỏ cả trâu chạy theo ông mõ, hò hét ầm ĩ.
– Vân Lĩnh xuống tuyển! – Ông cụ hàng xóm ở thửa ruộng bên cạnh buông liềm, giọng run run. – Lần trước Vân Lĩnh xuống làng mình, tôi còn bé tí. Có thằng con nhà ông Cửu được chọn. Nhà ấy được thưởng ba thúng gạo với một quan tiền. Cả làng phát thèm.
– Ba thúng gạo… – Ai đó lẩm bẩm.
Bông đứng trên bờ ruộng, hai mắt sáng rực như hai hòn than.
Từ phía đầu làng, Nguyên thấy thằng Quý đang đứng nghênh ngang giữa đám trẻ. Thằng Quý mười bốn tuổi, to bè như cái chum, mặt vẫn tròn, má vẫn phính. Nó mặc áo lụa, giọng oang oang:
– Tao thì chắc chắn được chọn rồi. Cha tao bảo nhà tao có của, Vân Lĩnh không chọn tao thì chọn ai? Chúng mày cứ ra mà thử cho vui.
Đám trẻ xung quanh cười hùa theo.
Thằng Quý quay đầu lại, nhìn thấy Nguyên đứng giữa ruộng. Hai đứa nhìn nhau qua cả cánh đồng. Thằng Quý nhếch mép, rồi quay đi.
Nguyên cúi xuống, vung liềm tiếp. Nhưng tay nó chậm hẳn lại.
Vân Lĩnh.
Nó ngẩng lên nhìn đỉnh núi. Mây trắng vẫn quấn ngang sườn núi như mọi ngày. Rừng trên ấy vẫn xanh thẫm như mọi ngày. Trên đó có những người đứng tấn trên mây, có những người tu luyện thật sự, có những cuốn công pháp không rách, không thiếu trang.
Nó nghĩ đến cuốn sách rách giấu dưới chõng. Nghĩ đến những mẩu giấy vụn của phần sau, những mẩu giấy nó đã nhìn đến mòn mắt mà không ghép được.
Tối hôm ấy, bữa cơm nhà họ Lê ồn ào hơn mọi ngày.
– Mẹ ơi, cho Bông đi thử nhé! – Bông bám lấy tay mẹ, lắc lắc. – Bông mười một tuổi rồi! Bông khoẻ lắm! Bông gánh nước ra đồng không đổ giọt nào!
– Con gái con đứa, đi tu luyện làm gì. – Mẹ nói, nhưng giọng không gắt. – Lên núi xa xôi, ai nấu cho con ăn, ai giặt cho con mặc.
– Bông tự nấu! Bông tự giặt!
Mẹ lắc đầu, nhưng khoé miệng hơi cong lên.
Nguyên ngồi im, gắp một miếng rau. Rồi nó đặt đũa xuống.
– Con cũng muốn đi.
Mâm cơm lặng đi một chút.
Mẹ nhìn nó. Bông nhìn nó, mắt mở to. Cha không ngẩng lên.
– Được chọn thì nhà mình có gạo. – Nguyên nói, giọng chậm, như đã nghĩ kỹ từ lúc chiều. – Ba thúng gạo, một quan tiền. Chân cha không làm nặng được nữa. Ruộng thì năm nào cũng lép. Mà con… con muốn được học võ cho đàng hoàng. Không phải nhìn trộm qua tường. Không phải tập theo sách rách.
Mẹ đặt bát xuống.
– Nhưng mà con đi thì… ruộng nhà ai làm?
– Bông làm! – Bông reo lên, rồi chợt nghĩ ra điều gì đó, mặt xịu xuống. – À, nhưng Bông cũng đi…
Mẹ bật cười, rồi lại thở dài.
Còn cha thì không nói gì.
Ông ngồi ở đầu mâm, đôi đũa trong tay dừng giữa chừng. Rồi ông đặt đũa xuống, quay mặt ra cửa, nhìn về phía núi.
Trời đã tối hẳn. Ngoài kia chỉ còn thấy bóng núi Vân Lĩnh đen thẫm, lồng lộng trên nền trời sao. Mây trên đỉnh núi trắng mờ mờ dưới ánh trăng non.
Cha nhìn đỉnh núi ấy rất lâu. Lâu như cái chiều mùa gặt sáu năm trước, khi ông ngồi ôm điếu cày ngoài hiên. Lâu như trăm lần khác Nguyên đã thấy ông nhìn như thế.
Mẹ nhìn cha. Bông nhìn cha. Nguyên nhìn cha.
Cả mâm cơm chờ.
– Tuỳ mày. – Cha nói.
Chỉ thế thôi. Rồi ông cầm đũa lên, ăn tiếp, mắt không nhìn ai.
Nguyên không hiểu vì sao cha im lâu thế. Cha chưa bao giờ ngần ngừ khi quyết chuyện gì. Gặt hay không gặt, bán hay không bán, đi hay không đi, cha bao giờ cũng nói ngay, cộc lốc, dứt khoát. Lần này thì cha im. Im như người đang nghĩ về một chuyện khác hẳn.
Nhưng cha đã nói "tuỳ mày". Thế là được.
Sáng hôm sau, Nguyên ra suối.
Ông Chài vẫn ngồi trên tảng đá sát mép nước, cần câu không mồi thả xuống vũng nước xanh thẫm. Như mọi sáng. Như hai năm nay.
– Đến rồi à. – Ông nói, không quay đầu. – Đứng tấn đi.
Nguyên không đứng tấn. Nó ngồi xuống tảng đá bên cạnh ông.
– Ông Chài ơi. Rằm tháng Mười này Vân Lĩnh Môn xuống làng tuyển đệ tử. Cháu định đi thử.
Ông Chài không nói gì.
Nhưng Nguyên thấy sợi dây câu dưới nước rung lên một cái. Không phải cá cắn. Lưỡi câu không mồi thì chẳng có con cá nào cắn. Là bàn tay cầm cần câu vừa run lên.
– Không đi. – Ông Chài nói.
Giọng ông không cộc lốc, không khàn khàn như mọi khi. Nó phẳng lặng, lạnh tanh, như mặt nước giếng.
Nguyên ngẩn ra.
– Tại sao ạ?
– Không đi là không đi.
– Nhưng mà tại sao? – Nguyên hỏi lại. – Vân Lĩnh là môn phái chính, đứng đầu cả chính phái. Người ta bảo được Vân Lĩnh chọn là phúc ba đời. Cháu đi thử thôi, có phải đi đánh nhau đâu.
Ông Chài quay lại.
Ông không còn nheo mắt như sắp ngủ gật. Ông cũng không mở mắt sắc như dao. Ông chỉ nhìn Nguyên, rất lâu, bằng một ánh mắt mà Nguyên không đọc được. Như người đứng trên bờ nhìn một đứa trẻ đang lội ra giữa dòng nước lũ.
– Ông bảo không đi. – Ông nói chậm, từng chữ. – Mày nghe ông lần này.
– Thì ông nói cho cháu biết tại sao đi.
Ông Chài không nói.
Nguyên đứng bật dậy. Có cái gì đó trong ngực nó nóng lên, bốc lên tận mặt. Hai năm nay, ông Chài bảo gì nó làm nấy. Bảo ngồi thì ngồi, bảo đứng thì đứng, bảo lội xuống suối giữa mùa lạnh thì lội. Ông gõ cần câu vào đầu nó không biết bao nhiêu lần, nó chưa kêu một tiếng. Ông bảo đừng kể giấc mơ với ai, nó chưa kể với ai.
Nhưng lần này thì khác.
– Ông không nói lý do, cháu không nghe được. – Nó nói. Giọng nó run lên, vừa giận vừa sợ chính mình. – Nhà cháu cần gạo. Ruộng năm nào cũng lép. Chân cha cháu không đi được nữa. Cháu đi thử, được chọn thì nhà có ba thúng gạo. Không được chọn thì thôi, có mất gì đâu.
Ông Chài nhìn nó.
– Không mất gì? – Ông lặp lại, rất khẽ.
Rồi ông im.
Nguyên đứng chờ. Chờ ông giải thích. Chờ ông nói một câu, nửa câu, bất cứ điều gì. Chỉ cần ông nói ra một lý do, dù là lý do vô lý nhất, nó cũng sẽ nghe.
Ông Chài quay mặt đi, nhìn ra suối.
– Thế thì mai đừng ra đây nữa. – Ông nói. Giọng lạnh tanh.
Nguyên đứng sững.
Gió từ phía núi thổi xuống, lạnh buốt. Nước suối vẫn réo qua những tảng đá, ào ào, như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Nó chờ thêm một lúc. Ông Chài không quay lại.
Nguyên cắn môi, quay lưng, bỏ đi. Nó đi nhanh, đi không ngoái lại, giẫm lên bãi cuội lạo xạo. Nó nghe tiếng mình thở dồn dập, nghe tiếng tim mình đập thình thịch trong ngực.
Sau lưng nó, không có tiếng ai gọi.
Mấy ngày sau đó, Nguyên không ra suối.
Nó gặt nốt thửa ruộng trên. Phơi lúa. Quạt thóc. Nó làm việc từ sáng đến tối, làm đến mức cha phải bảo nó nghỉ. Nhưng nó không nghỉ. Nghỉ thì nó lại nghĩ. Mà nghĩ thì nó lại thấy ông Chài ngồi trên tảng đá, quay lưng lại, không gọi.
Bông hỏi:
– Anh không ra suối nữa à? Ông Chài ốm à?
– Không.
– Thế sao anh không ra? Bông nắm cơm cho ông rồi đây này.
– Em mang ra cho ông đi. – Nguyên nói, mắt không rời đống thóc.
Bông nhìn anh, rồi nhìn nắm cơm trong tay. Con bé không hỏi nữa. Chiều hôm ấy, nó mang nắm cơm ra suối một mình. Lúc về, mặt nó buồn buồn.
– Ông Chài không ngồi câu. – Bông nói. – Bông để nắm cơm trước cửa lều ông.
Nguyên không nói gì.
Đêm nào nó cũng đứng tấn ở sân sau, đến tận khuya. Đứng đến khi hai chân run lên, đến khi mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Nó thở bằng ý, như ông dạy. Nó đấm bằng hông, như thầy Cao dạy. Nó nhìn vai một đối thủ tưởng tượng trong bóng tối, như ông Chài dạy.
Ông Chài dạy nó nhiều thế. Vậy mà ông không chịu nói cho nó một câu.
Có một đêm, đang đứng tấn, nó chợt thấy có người đứng ở bậc cửa. Cha. Cha đứng tựa vào khung cửa, một tay vịn cột, cái chân trái co lên. Ông đứng nhìn nó, không biết từ bao giờ.
Nguyên dừng lại.
– Cha chưa ngủ ạ?
Cha không trả lời. Ông nhìn nó thêm một lúc. Rồi ông ngẩng lên, nhìn qua đầu nó, nhìn về phía núi, như mọi khi. Rồi ông quay vào, tiếng chân tập tễnh xa dần trong bóng tối.
Nguyên đứng giữa sân, không hiểu sao thấy lạnh gáy.
Đêm trước rằm tháng Mười.
Trăng gần tròn, treo trên ngọn tre đầu ngõ. Cả nhà đã ngủ. Bông ngủ say từ sớm, ôm khư khư cái áo mới mẹ may cho để mai mặc đi thử. Mẹ dặn đi dặn lại mai phải dậy sớm, phải chải đầu cho gọn, phải lễ phép với người trên núi xuống.
Nguyên nằm trên chõng, mắt mở thao láo.
Mai nó đi. Mai nó sẽ đứng trước những người tu luyện thật sự của Vân Lĩnh Môn. Mai có khi nó sẽ được chọn. Có khi nó sẽ không bao giờ phải nhìn trộm qua tường nữa.
Vậy mà sao ngực nó cứ nặng trĩu.
Nó luồn tay xuống dưới manh chiếu, tìm chiếc lục lạc, nắm lấy. Mặt bạc mát lạnh.
Cốc.
Nguyên mở mắt.
Cốc. Cốc.
Tiếng gõ khẽ, rất khẽ, vào vách nứa. Ngay chỗ đầu nó nằm.
Nó ngồi dậy, rón rén rút chân ra khỏi chăn cho Bông khỏi thức. Nó đi ra cửa, mở cửa, bước ra sân. Đêm lạnh. Sương xuống ướt cả mặt sân đất.
Ngoài ngõ, dưới hàng tre, có một bóng người đứng trong bóng tối.
Gầy. Cao. Lưng gù.
Nguyên đứng ở cổng, không bước tới. Bóng người kia cũng không bước tới. Ánh trăng lọt qua kẽ lá tre, rọi xuống mái tóc bạc buộc túm bằng sợi lạt, rọi xuống cái áo nâu vá chằng vá đụp.
Ông Chài.
Hai thầy trò đứng nhìn nhau qua khoảng sân đầy sương. Không ai nói gì.
Nguyên muốn nói. Muốn xin lỗi. Muốn hỏi lại câu hỏi hôm ấy. Muốn nói rằng cháu sẽ không đi nữa, nếu ông nói cho cháu biết tại sao. Nhưng cổ họng nó nghẹn lại, chẳng bật ra được tiếng nào.
Ông Chài cũng không hỏi gì. Không mắng. Không cấm. Ông chỉ nói một câu, giọng trầm, rất trầm, như từ đâu dưới đáy giếng vọng lên:
– Mai đi thì cài cổ áo cho kín.
Rồi ông quay đi.
Bóng ông lẫn vào hàng tre, không một tiếng động, như chưa từng đứng đó.
Nguyên đứng giữa sân rất lâu. Sương thấm lạnh hai bàn chân trần. Bàn tay nó, không biết từ lúc nào, đã đưa lên sau gáy, đặt lên vết sẹo tròn to bằng đồng tiền.