Lạc Hồng Tiên Lộ

Chương 15: Mộ gió

Cha nhìn nó.

Đốm lửa trong nõ điếu đỏ lên rồi lụi xuống. Trời đã hửng xám ở phía đông, đủ để Nguyên thấy mặt cha. Gương mặt sạm đen, râu lởm chởm, hai mắt đỏ quạch vì thức trắng. Cha nhìn nó từ đầu xuống chân. Nhìn tấm lưng trần ướt sũng. Nhìn cái má trầy rớm máu. Nhìn một bàn chân đất, một bàn chân còn dép. Nhìn bàn tay nó nắm chặt, nắm chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra.

Cha không đứng dậy. Không quát. Không hỏi nó đi đâu cả đêm.

– Ai? – Cha hỏi.

Chỉ một chữ.

Nguyên mở miệng. Cổ họng nó khô khốc, không bật ra được tiếng nào. Nó nuốt nước bọt, rồi nói. Nói vội, nói lộn xộn, chẳng đầu chẳng đuôi.

– Có người… năm người bịt mặt… Họ đến bắt con. Ông Chài dẫn con ra suối. Ông Chài… – Giọng nó vỡ ra. – Ông Chài chết rồi cha ạ. Ông giết hết bọn nó, rồi ông chết. Ông bảo con đi. Ông bảo đừng quay về. Về là hại cả nhà.

Cha không nói gì.

Ông ngồi đó, điếu cày ôm trong lòng, im như một hòn đá. Lâu lắm. Rồi ông quay đầu, nhìn về phía núi.

Vân Lĩnh trong sương sớm chỉ còn là một khối đen mờ mờ. Mây trên đỉnh núi xám như tro.

Nguyên đứng chờ. Chờ cha hỏi tiếp. Hỏi người bịt mặt là ai, vì sao họ muốn bắt nó, vì sao ông Chài lại liều mạng vì nó. Những câu mà chính nó cũng không trả lời được.

Cha không hỏi câu nào.

Ông đặt điếu cày xuống bậc thềm, chống tay đứng dậy. Cái chân trái khuỵu xuống một chút, rồi đứng vững.

– Vào lấy đồ. – Cha nói. Giọng khàn khàn, thấp, như sợ ai nghe thấy. – Đừng đánh thức con Bông.


Trong nhà còn tối.

Nguyên rón rén bước qua bậc cửa. Nó quỳ xuống bên chõng, luồn tay xuống gầm. Cuốn sách rách vẫn nằm đó, buộc lạt cẩn thận, hai xấp, như nó đã buộc năm năm trước bên bếp tro nhà cô Mận. Nó rút ra, ôm vào ngực.

Bông nằm trên chõng, ngay trước mặt nó.

Con bé ngủ say. Tóc vàng hoe xoã trên gối, môi hé mở, còn vương một nụ cười. Hai tay ôm khư khư cái áo xanh lá mạ, cái áo mẹ may cho để mặc đi thử. Cái áo con bé đã mặc khi đứng giữa sân đình, khi nghe ông Lương nói căn cốt tốt hiếm có, khi chạy ào sang ôm chầm lấy anh.

Nguyên ngồi im, nhìn em.

Sau Tết, em sẽ lên núi. Em sẽ được học võ đàng hoàng, được ăn no, mặc ấm. Em sẽ không bao giờ phải đứng nấp sau tường, không bao giờ phải tập theo sách rách.

Còn sáng mai, em sẽ thức dậy, và người ta sẽ bảo em rằng anh em chết rồi.

Nguyên đưa ngón tay xuống nền đất cạnh chõng. Nó viết. Chậm rãi, từng nét một, như ông đồ Lãng đã dạy, như nó đã viết cho em trên sân nhà năm nào.

Chữ "Bông".

Nó nhìn chữ ấy một lúc. Rồi nó đưa lòng bàn tay xoá đi. Xoá thật kỹ, cho đến khi nền đất phẳng lại như chưa từng có ai viết gì.

Để lại thì người ta sẽ biết. Người chết không viết chữ được.

Có tiếng sột soạt ở gian bên.

Nguyên ngẩng lên. Mẹ đứng ở khung cửa giữa hai gian, tóc chưa vấn, áo khoác vội. Mẹ nhìn nó. Nhìn tấm lưng trần, nhìn cái má trầy, nhìn cuốn sách ôm trong ngực.

Mẹ mở miệng.

Cha đã đứng sau lưng mẹ từ lúc nào. Ông đặt tay lên vai mẹ, lắc đầu. Một cái lắc đầu rất nhẹ.

Mẹ ngậm miệng lại.

Mẹ không hỏi. Không khóc thành tiếng. Mẹ chỉ quay vào gian bên, lục lọi trong cái rương gỗ. Một lúc sau, mẹ đi ra, tay cầm một cái áo nâu. Áo của cha, cái áo cũ cha mặc đi đốn củi mấy năm trước, vá hai miếng ở khuỷu tay.

Mẹ quỳ xuống trước mặt Nguyên, mặc áo cho nó. Tay mẹ run run, cài từng cái cúc. Cài đến cái cúc trên cùng, ở cổ, tay mẹ dừng lại. Mẹ nhìn nó, rất lâu, trong bóng tối mờ mờ.

Nước mắt mẹ chảy xuống. Nhưng mẹ không khóc thành tiếng.

Rồi mẹ đứng dậy, đi xuống bếp. Nguyên nghe tiếng nồi niêu khẽ chạm nhau. Mẹ trở lên, dúi vào tay nó một gói lá chuối. Cơm nguội, còn sót lại từ bữa tối hôm qua, bữa cơm trắng ăn mừng Bông được chọn. Gói thành một nắm thật chặt, có cả miếng thịt kho mặn.

– Để dành. – Mẹ thì thầm. Giọng mẹ vỡ vụn. – Đi đường mà đói.

Nguyên nhìn mẹ. Nó muốn nói thế còn mẹ. Như hôm ở cầu ao năm tám tuổi. Như hôm ra đi lúc chín tuổi.

Nó không nói được.

Mẹ ôm lấy nó. Ôm thật chặt, chặt đến mức nó nghe thấy tim mẹ đập. Rồi mẹ buông ra, quay mặt đi.


Sương sớm phủ trắng cả con đường đất ra đầu làng.

Cha đi trước. Nguyên đi sau. Cả làng còn ngủ. Chỉ có tiếng gà gáy lác đác từ xóm nọ sang xóm kia, tiếng chân hai cha con lạo xạo trên sỏi.

Cha đi chậm. Chân trái tập tễnh, nặng nề. Nguyên đi sau lưng cha, như năm năm trước trên đường đê lên Bến Gỗ, như sáu năm trước trên bờ ruộng mùa gặt.

Đến gốc đa đầu làng, cha dừng lại.

Phía trước là con đường đê chạy dọc sông Cái. Rẽ phải là đường lên Bến Gỗ. Rẽ trái là đường xuôi về phía nam, đi mãi, đi mãi, đến những nơi Nguyên chưa từng nghe tên.

Cha quay lại. Ông không nhìn Nguyên. Ông nhìn xuống đất, nhìn bàn tay mình.

Rồi ông dúi vào tay Nguyên một cái túi vải nhỏ.

Túi vải nặng trĩu. Nguyên nghe tiếng tiền đồng va vào nhau bên trong. Nó biết số tiền ấy từ đâu ra. Cái ống tre trên vách, cái ống mẹ đã đổ hết kim chỉ ra để đựng tiền công của nó.

Tiền công của nó. Mấy năm đi ở nhà cô Mận, rằm nào cũng một chuỗi. Mẹ cất từng chuỗi vào ống tre, nói để dành, mai kia có việc mà cần.

Mai kia là hôm nay.

– Đi về phía nam. – Cha nói. Mắt cha vẫn không nhìn nó. Giọng cha thấp, khàn, cụt lủn. – Đừng xuống Bến Gỗ.

Nguyên ngẩng lên.

Bến Gỗ. Cô Mận. Thằng Cò. Ông đồ Lãng. Thầy Cao. Cái lỗ gạch ở chân tường. Cái chiếu cói ở cổng chợ.

Người ở Bến Gỗ biết nó. Biết nó là thằng Nguyên con nhà Tráng ở làng Chân Mây. Nếu nó xuống đó, sẽ có người thấy. Nếu có người thấy, sẽ có người biết thằng Nguyên chưa chết.

Nó hiểu.

– Vâng.

Cha không nói gì thêm. Ông quay lưng lại.

Ông đi về phía làng. Chậm rãi. Lưng còng. Chân trái tập tễnh. Như cái hôm ở Bến Gỗ năm nó chín tuổi, cha gánh hai cái quang gánh rỗng, một to một nhỏ, đi vào đám đông ngoài chợ mà không ngoái lại.

Lần này cũng thế. Cha không ngoái lại.

Nguyên đứng ở gốc đa, nhìn theo cái lưng ấy cho đến khi sương nuốt mất.

Rồi nó quay mặt về phía nam.

Nó đi. Một tay ôm cuốn sách rách. Một tay nắm túi tiền đồng và nắm cơm của mẹ. Trong túi áo cũ của cha, áp vào ngực, chiếc lục lạc bạc khẽ chạm vào da.

Phía sau lưng nó, làng Chân Mây chìm dần vào sương. Phía trên làng, đỉnh Vân Lĩnh quấn mây trắng, đẹp như một bức tranh.

Nó không ngoái lại.


Đến trưa, cả làng Chân Mây đều đã biết.

Người đầu tiên phát hiện ra là thằng con nhà ông cụ hàng xóm, sáng sớm dắt trâu ra suối uống nước. Nó chạy về, mặt cắt không còn giọt máu, lắp bắp không nên lời. Đến khi người lớn kéo nhau ra suối thì thấy.

Năm cái xác lạ, áo đen, bịt mặt, nằm rải rác trên bãi đá. Và ông Chài, ngồi dựa vào tảng đá sát mép nước, cái cần câu tre đặt ngang trên đùi, đầu nghiêng về phía núi. Như một ông lão đang ngồi câu cá, và ngủ quên.

Rồi có người thấy chiếc dép.

Một chiếc dép rơm, mắc trên cành cây gãy giữa dòng suối. Nước chảy xiết qua, kéo chiếc dép, nhưng cành cây giữ lại.

Lê Tráng đứng giữa đám đông trên bờ suối.

Ông nhìn chiếc dép ấy. Ông biết chiếc dép ấy. Chính tay ông đã bện nó, từ rơm nếp phơi khô, hồi đầu mùa gặt.

– Dép thằng Nguyên nhà tôi. – Ông nói.

Đám đông im bặt. Mọi người quay sang nhìn ông.

Tráng không nhìn ai. Ông nhìn dòng suối. Ông bắt mình nhìn dòng suối, bắt mình nói ra những chữ mà cả đêm qua ông đã nhẩm đi nhẩm lại trong đầu.

– Đêm qua nó không ngủ. Nó bảo ra suối ngồi một lúc. – Giọng ông khàn khàn, đứt quãng. Ông không phải cố. Giọng ông tự nó đứt quãng. – Nó hay ra đây ngồi. Từ bé đã thế. Chắc nó gặp bọn này. Chắc nó chạy. Rồi ngã xuống suối.

Ông dừng lại. Ông nhìn chiếc dép thêm một lúc nữa.

– Nước mùa này xiết. Bị nước cuốn rồi.

Không ai nói gì. Bà cụ bán nước bưng mặt khóc. Ông cụ hàng xóm đặt tay lên vai Tráng, bóp chặt. Mấy người đàn bà ôm nhau sụt sịt.

Tráng đứng im, như một gốc cây khô.

Ông không khóc. Ông không được khóc. Khóc thì phải khóc thật, mà khóc thật thì ông sẽ không dừng lại được.

Gần trưa, người của Vân Lĩnh xuống.

Lý trưởng đã sai người chạy lên chân núi báo tin. Ba người áo trắng thêu mây đến bờ suối. Họ không nói nhiều. Họ đi một vòng quanh bãi đá, cúi xuống nhìn từng cái xác áo đen, lật khăn bịt mặt lên nhìn rồi lại đậy xuống. Họ đứng nhìn ông Chài rất lâu. Một người nhíu mày, như đang cố nhớ ra điều gì, rồi lắc đầu.

Họ nhìn chiếc dép mắc trên cành cây.

Người đứng đầu hỏi lý trưởng chiếc dép của ai. Lý trưởng chỉ về phía Tráng, nói lí nhí mấy câu. Người áo trắng nhìn Tráng một lúc. Tráng cúi đầu, không nhìn lại.

– Nước suối mùa này xiết. – Người áo trắng nói, giọng bình thản. – Xác chắc trôi ra sông Cái rồi. Không tìm được đâu.

Rồi người đứng đầu quay sang dân làng. Giọng anh ta ôn tồn, dễ nghe:

– Bọn này là cướp núi, có khi là người của tà phái, đêm qua lẻn xuống làng, chắc đụng phải ông lão. Môn phái sẽ mang về tra xét, trừ hậu hoạ cho bà con.

Lý trưởng cúi rạp người cảm tạ. Dân làng xì xào, người nọ bảo người kia người trên núi chu đáo thật, có chuyện là xuống ngay. Rồi họ sai người khiêng năm cái xác áo đen đi.

Tráng đứng lẫn trong đám đông, không nói gì. Ông nhìn theo năm cái xác được khiêng lên con đường mòn dẫn về chân núi, cho đến khi chúng khuất sau rặng tre.

Họ để lại ông Chài.


Chiều hôm ấy, Tráng tự tay đào hai cái huyệt ở bãi tha ma đầu làng.

Ông không để ai giúp. Ông cụ hàng xóm, mấy người đàn ông trong xóm đến, ông đều xua về. Ông đào một mình, cái chân trái tập tễnh, mồ hôi ướt đẫm lưng áo.

Huyệt thứ nhất cho ông Chài. Ông lão đánh cá dở hơi, câu cá không mồi, cả làng bảo là ma suối. Người làng không biết tên thật của ông. Tráng cũng không biết. Ông chỉ biết ông lão ấy đã chết trên bãi đá để thằng bé nhà ông được sống. Ông chôn ông lão cùng với cái cần câu tre.

Huyệt thứ hai thì trống.

Tráng đắp đất lên một cái huyệt trống. Ông đắp cẩn thận, vun cao, vỗ cho chặt, như đắp một ngôi mộ thật. Người làng gọi đó là mộ gió. Mộ của người chết mà không tìm thấy xác. Chỉ chôn một nắm đất, một lời khấn, để linh hồn có chỗ mà về.

Ông cắm lên ngôi mộ gió một nén hương.

Lụa đứng cạnh ông. Bà mặc áo tang, khăn trắng quấn đầu. Bà khóc. Bà khóc thật. Khóc cho đứa con đang lủi thủi một mình trên con đường đê phía nam, không biết đêm nay ngủ ở đâu, không biết bao giờ mới gặp lại.

Và Bông.

Con bé quỳ trước ngôi mộ gió, khóc. Khóc từ sáng đến giờ, khóc đến khản cả giọng, khóc đến không thở được. Cái áo xanh lá mạ con bé vẫn mặc, giờ nhàu nhĩ, lấm lem đất.

– Anh Nguyên ơi… Anh Nguyên…

Tráng đứng nhìn con gái.

Ông muốn quỳ xuống. Muốn ôm lấy con bé. Muốn ghé vào tai nó, thì thầm anh mày chưa chết, anh mày đang đi về phía nam, anh mày sẽ sống.

Ông không được nói.

Con bé mới mười một tuổi. Sau Tết, nó sẽ lên núi. Lên đúng cái núi mà đêm qua năm kẻ bịt mặt đã từ đó đi xuống. Nếu con bé biết, con bé sẽ vui. Mà vui thì con bé sẽ kể. Mà kể thì…

Tráng đứng im. Hai bàn tay to bè buông thõng bên người, nắm lại, rồi buông ra.

Một lúc lâu sau, Bông ngừng khóc. Con bé lau nước mắt bằng tay áo, rồi lục trong túi áo, lấy ra một gói lá chuối nhỏ. Một nắm cơm muối vừng, nắm từ sáng sớm, định mang ra suối cho ông Chài như mọi khi.

Con bé đứng nhìn nắm cơm một lúc. Rồi nó bẻ đôi.

Một nửa, nó đặt lên mộ ông Chài.

Một nửa, nó đặt lên mộ gió của anh.

– Ông với anh chia nhau ăn nhé. – Bông nói, giọng khản đặc. – Có muối vừng đấy.

Lụa quay mặt đi, bưng miệng.

Tráng nhìn hai nửa nắm cơm trên hai ngôi mộ. Ông nhớ đến một đêm cuối thu năm thằng bé lên tám. Nó về muộn, lay con Bông dậy, đưa cho em nửa củ khoai nướng. Con Bông hỏi sao có nửa củ. Thằng bé bảo anh ăn rồi. Đêm ấy Tráng nằm ở gian bên, chưa ngủ. Ông nghe hết. Ông biết thằng bé chưa ăn.

Ông cúi xuống, nhặt một nắm đất, đắp thêm lên ngôi mộ gió.


Đêm.

Lụa đã ngủ, hay giả ngủ. Bông khóc mệt, ngủ thiếp đi trên chõng, cái áo xanh lá mạ vẫn mặc trên người. Chỗ nằm bên cạnh con bé trống không.

Tráng ngồi ngoài hiên.

Ông ôm cái điếu cày. Ông nạp một mồi thuốc, châm lửa, rít một hơi dài. Tiếng nước trong điếu kêu sòng sọc. Khói thuốc bay lên, mỏng như sương, tan vào bóng đêm.

Ông nhìn về phía núi.

Như mọi khi. Như trăm lần, nghìn lần trước. Như cái chiều mùa gặt sáu năm trước, khi thằng bé đứng bên cạnh hỏi cha nhìn gì thế, và ông nói dối là nhìn xem mai có mưa không.

Nhưng đêm nay, Tráng không nhìn để xem trời có mưa không.

Ông nghĩ đến một mảnh vải.

Một mảnh vải nhỏ, ướt sũng, nằm trong bàn tay nắm chặt của một đứa bé ba tuổi mắc trên cành cây giữa dòng suối. Chín năm trước. Ông đã phải gỡ từng ngón tay bé xíu ra mới lấy được nó. Ông đã nhìn nó rất lâu. Rồi ông đã đốt nó trong bếp lửa, ngay đêm hôm ấy, khi Lụa còn đang lau người cho đứa bé.

Ông đã tưởng đốt đi rồi là xong. Ông đã tưởng chín năm nay, chuyện ấy đã chìm xuống đáy suối cùng với những gì ông không muốn biết.

Tráng rít thêm một hơi thuốc. Đốm lửa trong nõ điếu đỏ lên, soi rõ đôi mắt ông.

Ông nhìn đỉnh Vân Lĩnh.

Mây trắng trên đỉnh núi bạc ra dưới trăng. Rừng trên ấy vẫn xanh thẫm, như chẳng biết gì về cái đói, cái chết ở dưới này. Đẹp như một bức tranh.

Lần đầu tiên trong chín năm, Lê Tráng nhìn ngọn núi ấy, và biết mình đang nhìn kẻ thù.