Chương 17: Đoàn tiêu xa
Nguyên đếm tiền mỗi tối.
Đếm bằng ngón tay, trong bóng tối, từng đồng một, như mẹ đếm hạt gạo trước khi bắc nồi. Cái túi vải cha dúi vào tay nó ở gốc đa nặng bao nhiêu thì giờ nhẹ đi bấy nhiêu. Những ngày đầu, nó còn nghe tiếng tiền đồng va vào nhau lanh canh. Sang tuần thứ ba, chỉ còn tiếng sột soạt khẽ, như chuột chạy trong rơm.
Nguyên học được nhiều điều trên con đường ấy, và điều nào cũng phải trả bằng tiền hoặc bằng bụng đói.
Nó học được rằng một bát cháo loãng ở quán ven đê giá hai đồng, ngoài chợ giá ba đồng, và cái bụng của một đứa mười bốn tuổi đang lớn không bao giờ chịu no bằng một bát. Nó học được rằng ngủ chuồng trâu thì ấm hơn ngủ gầm cầu, nhưng phải chẻ nửa sọt củi cho chủ nhà mới được ngủ. Nó học được rằng người ta nhìn một đứa trẻ lạ không cha không mẹ bằng ba kiểu mắt: thương hại, ngờ vực, và thèm cái sức của nó.
Nó học cả cách đứng im khi bị gạt.
Đó là ở một cái lò vôi bên bờ sông, hồi tuần thứ hai. Ông chủ lò hứa ba ngày khuân gạch được hai mươi đồng. Nguyên khuân đủ ba ngày, vai sưng tím, tay rách toạc mấy chỗ. Chiều ngày thứ ba, ông chủ phe phẩy cái quạt mo, đếm ra hai đồng.
– Thằng nhóc làm vỡ mười viên. – Ông ta nói. – Trừ rồi còn thế.
Nguyên chưa từng làm vỡ viên nào. Nó biết, và ông ta cũng biết nó biết.
Nguyên đứng nhìn bốn đồng tiền nằm trên mặt đá. Nó nghĩ đến cha, đứng thẳng lưng giữa sân nhà bá hộ, nói tôi đền đủ, không nợ ai. Nhưng cha là người làng, có nhà, có ruộng, có tên có tuổi. Nó thì không. Nó tính rất nhanh. Cãi lại thì ông chủ sẽ quát. Quát thì người làm lò kéo đến xem. Người ta xem thì người ta nhớ mặt, nhớ giọng, rồi hỏi nó quê đâu, tên gì, cha mẹ nó là ai.
Đừng bao giờ để ai biết.
Nguyên cúi xuống nhặt bốn đồng, bỏ vào túi, nói cháu cảm ơn ông, rồi đi. Ra tới đầu đê, nó mới thấy bàn tay mình nắm chặt đến mức móng ghim vào thịt.
Từ hôm ấy, nó học thêm một điều: khi làm thuê thì thỏa thuận trước, trả tiền ngay trong ngày. Ai không chịu thì thôi.
Đêm nào nó cũng đứng tấn, thở theo lời ông Chài, trong chuồng trâu, dưới mái hiên đình, bên cạnh những đống rơm ướt. Mưa phùn kéo dài từ giữa tháng Mười Một, gió bấc thổi qua kẽ áo cha như thổi qua cái sàng. Người nó gầy đi. Cái áo nâu vốn rộng nay rộng thêm một gang nữa. Nhưng hơi thở thì đều hơn, và mỗi sáng thức dậy, hai chân nó vẫn đứng vững.
Có hôm nó ngồi dưới mái hiên một ngôi chùa làng, nhìn nước mưa nhỏ giọt, và nghĩ: Nếu ông Chài còn, chắc ông sẽ bảo mình thở sai. Nghĩ xong, nó thấy sống mũi cay, bèn đứng dậy tập thêm một lượt.
Con đê cuối cùng rẽ ra một cái chợ.
Chợ họp ở ngã ba, nơi đường đê gặp một con đường đất rộng chạy thẳng về phía nam, người ta gọi là đường cái quan. Đường ấy lát đá, xe bò, xe trâu, ngựa thồ qua lại không ngớt. Đằng xa, núi xanh thẫm nối nhau chạy dọc phía tây, và nơi chân núi ấy đường cái quan ngoặt vào một khe đèo mờ trong mưa.
Nguyên đứng ở rìa chợ rất lâu.
Chợ không to bằng Bến Gỗ, nhưng lạ hơn. Người bán hàng nói giọng nặng, tròn, nhấn những chữ mà nó chưa từng nghe. Quang gánh đầy cá khô, mực khô, mắm. Mùi biển, một mùi mặn, tanh, gay gắt, lẫn trong mùi khói rơm ẩm. Nó chưa từng thấy biển, nhưng nó biết ngay: đây là mùi của một thứ rất rộng và rất xa.
Giữa chợ có một cái nhà gạch thấp, không biển hiệu, chỉ treo trước cửa một ngọn đèn dầu bằng đồng. Đèn tắt giữa ban ngày, nhưng người ra vào đều bước chậm lại một chút khi ngang qua nó.
– Nhà bang đấy. – Bà bán cháo kế bên nói, thấy nó nhìn. Bà nói như nói về chuyện quen thuộc, không có chút gì thần bí. – Gửi thư, gửi tiền, gửi hàng, đâu cũng tới. Chậm, có khi mất mấy tháng, nhưng chưa bao giờ mất. Người dưới hang đá làm ăn thế đấy.
– Gửi cả về làng nhỏ ạ?
– Làng nào cũng gửi được, miễn là có tên người nhận.
Nguyên đứng yên, nghe tim mình đập chậm lại, nặng hơn.
Nó nghĩ đến cái ống tre trên vách bếp, nghĩ đến mẹ vẫn phải kiếm từng đồng sau khi nhà bá hộ cắt việc dệt. Nếu nó có chỗ ở cố định, có tiền dư, nó sẽ gửi về. Chắc chắn.
Nhưng gửi bằng tên gì? Ai nhận? Nhỡ người của Vân Lĩnh đứng canh ngoài cổng nhà?
Nguyên nuốt xuống. Chưa. Chưa đến lúc.
Nguyên đi qua ngọn đèn đồng, không quay lại.
Đoàn xe nghỉ ở bãi cỏ cuối chợ.
Năm chiếc xe trâu xếp thành hàng, mỗi xe chở những chum sành to bằng cái thúng, miệng đậy lá chuối buộc lạt, xếp ngay ngắn bằng dây thừng và rơm dày. Gốm men nâu, bóng như mật. Người đàn ông gầy gò đứng giữa đoàn đang dùng bàn tay xoa lên từng cái chum, miệng đếm nhỏ, mắt nhìn từng sợi dây.
Cây cờ cắm ở xe đầu. Một lá cờ vuông nền chàm, viền đỏ, ướt mưa nên rũ xuống. Nhưng gió bấc thổi tới, kéo nó bung ra, và Nguyên nhìn thấy bốn chữ thêu bằng chỉ trắng.
Chữ đầu tiên nó nhận ra ngay, vì có ba chấm nước bên trái, giống chữ tên nó: Hải. Biển. Hai chữ cuối nó đọc được từ đoạn ông đồ Lãng dạy thêm sau chuyện tấm biển võ quán: Tiêu Cục. Chữ thứ hai nó đoán, không chắc: có vẻ như Thuận.
Hải Thuận Tiêu Cục.
Tiêu cục là nơi nhận thuê hộ tống hàng. Nó biết thế từ lời thằng Cò, từ những chuyện người Bến Gỗ hay kể bên bếp. Tiêu sư là người của giang hồ, mang kiếm, đi đường xa, đưa của từ nơi này đến nơi khác.
– Bà ơi, tiêu cục này có nhận người làm thuê không ạ? – Nó quay lại hỏi bà bán cháo.
– Hải Thuận á? Lúc nào cũng thiếu người đẩy xe, khuân hàng. – Bà nhìn nó từ đầu xuống chân, chép miệng. – Nhưng ông chủ khó tính lắm, chỉ nhận người có người bảo lãnh. Cháu là ai?
Nguyên im.
– Thế thì thôi. – Bà nói, giọng không ác ý.
Nguyên vẫn đi lại phía đoàn xe. Một người phu mặc áo tơi lá ngồi nhai bánh dưới gầm xe, thấy nó thì hất hàm:
– Gì đấy nhóc?
– Dạ, cháu muốn hỏi xin làm việc vặt…
– Biến. Hải Thuận không nhận ăn mày. – Người phu nhổ bã trầu xuống đất, nói thêm. – Người ta cần người có tên có tuổi, có người bảo đảm. Mày có không?
Nguyên đứng một lúc rồi lùi lại. Nó không giận. Người phu nói đúng, thế gian vận hành như thế. Cái lò vôi bên sông, cái chuồng trâu, bà bán cháo, người phu này, họ không ác, chỉ là thế gian này vốn không có chỗ cho đứa không ai biết.
Chiều, đoàn xe nhổ trại, lăn bánh vào đường cái quan.
Nguyên đi theo, cách một đoạn xa.
Không phải vì nó định bám theo. Chỉ là con đường ấy cũng là con đường nó phải đi. Đoàn xe đi chậm, tiếng bánh xe cọt kẹt ngái ngủ, tiếng trâu phì phò, tiếng người phu hô hoán khản đặc. Nguyên giữ khoảng cách, nghe tiếng bánh xe nhỏ dần, rồi lại gần. Nó đi trong mưa, cái áo ướt sũng dính vào lưng, chiếc lục lạc bọc vải áp vào ngực lạnh buốt.
Mưa nặng hạt hơn khi nó tới chân đèo.
Con đường cái quan ở đây đã thôi lát đá. Đường đất sét chuyển sang màu nâu đỏ, nhão như bột, nước đọng từng vũng. Một bên là sườn núi dựng đứng phủ đầy cây rậm, một bên là mương nước chảy ào ào. Xa xa, tiếng trâu rống, tiếng người quát, tiếng gỗ lách cách.
Nguyên chạy lên.
Chiếc xe thứ tư của đoàn bị sa lầy. Bánh bên phải lún nửa trục xuống một ổ bùn sâu, nghiêng hẳn đi, mấy cái chum nặng trên thùng xe nghiêng theo, dây buộc căng ra như dây đàn. Con trâu kéo xe ngoẹo cổ rống, mũi phì hơi trắng. Bốn người đàn ông ghé vai vào thùng xe, mặt đỏ gay, gân cổ nổi lên, một người đang quất roi vào lưng trâu.
– Hò dô! Đẩy! – Người phu quát. – Ba hai một!
Xe ì ra, không nhúc nhích.
– Lại! Ba hai một!
Một chum nghiêng thêm một chút. Có tiếng sành cọ vào nhau, kêu lên một tiếng khe khẽ, nghe đau.
Tiêu sư gầy gò Nguyên đã thấy ở chợ đứng ở mép đường, tay vịn thanh kiếm đeo hông, mắt nhìn chiếc xe, không nói gì. Mưa chảy thành dòng trên vành nón. Ông tính toán. Nguyên nhìn ra điều đó qua cái cách ông đứng im: dỡ hàng thì mất nửa canh giờ trong mưa, mà không dỡ thì chum vỡ thì mất cả chuyến.
Nguyên đứng lại ở bên đường, nhìn.
Và nó thấy.
Bốn người đẩy, nhưng họ không đẩy cùng lúc. Người đầu hô ba hai một rồi dồn sức, người thứ hai thì còn đang hít hơi, người thứ ba đẩy chậm nửa nhịp, người thứ tư tì lưng vào thùng xe nhưng gần như để cho ba người kia gánh. Sức của họ, cộng lại, chỉ bằng chừng hai người. Con trâu cũng vậy. Mỗi lần người phu hô, nó giật mình kéo một cái, rồi người ta chưa đẩy xong thì nó đã xả hơi. Trâu kéo một nhịp, người đẩy một nhịp, hai nhịp ấy lệch nhau.
Nhìn vai. Ông Chài từng nói thế. Đừng nhìn đầu cần, nhìn vai người ta, vai nói trước tay.
Còn bánh xe thì lún vì ổ bùn dốc về phía sau. Nếu có thứ gì lót vào dưới bánh, một tấm ván, một phiến đá…
Nguyên quay lại. Ở mép mương, có đống phiến đá dẹt người ta xếp từ hồi sửa đường, bị bỏ quên, rêu bám xanh.
– Chú ơi! – Nó nghe giọng mình vang lên, to hơn dự tính. – Chú cho cháu nói một câu được không ạ?
Tiêu sư quay đầu. Mấy người phu quay nhìn. Ai nấy đều nhìn nó, một thằng nhóc lấm lem bùn, áo rộng hơn người, đứng giữa mưa.
– Cháu thấy mọi người đẩy lệch nhịp với trâu. – Nó nói nhanh, sợ mình sẽ ngập ngừng. – Chỗ bánh bị lún lại dốc ngược. Nếu lót đá vào dưới bánh trước, rồi mọi người đẩy cùng một lúc, ai ra hiệu cũng được, chỉ một tiếng thôi, trâu nghe tiếng ấy là kéo… thì có khi lên.
Người phu cầm roi nhổ nước bọt.
– Thằng nhóc gầy như con chuột thì biết gì…
– Để nó thử. – Tiêu sư nói.
Ông nói nhỏ, không nhìn người phu. Nhưng người phu im.
Nguyên không đợi ai ra lệnh. Nó chạy ra mương, ôm một phiến đá lên, nặng như đang ôm một tảng đất. Hai người phu đỡ giúp một phiến nữa. Nó quỳ xuống bùn, nhét đá xuống dưới bánh bị lún, chèn cho chặt, mặt sát xuống nước sền sệt lạnh buốt.
Rồi nó đứng lên, bước tới đầu thùng xe, chỗ phía sau bánh, chỗ khó đẩy nhất.
– Chú ra hiệu ạ. – Nó nói với tiêu sư. – Cháu đẩy từ đây.
Nguyên chống hai chân rộng bằng vai, hạ hông. Gối không quá mũi chân. Hít vào, ngắn. Thở ra, dài. Hơi đi xuống rốn. Hai bàn tay áp vào thùng xe ướt. Như đứng tấn trên sân sau bếp nhà cô Mận, như bên bờ suối với ông Chài, ngày nào mà chẳng thế.
Đấm bằng hông. Thầy Cao ngày nào gầm gừ qua bức tường. Đẩy cũng bằng hông, không bằng tay.
– Một, hai… – Tiêu sư hô. – Đẩy!
Người phu quất trâu.
Nguyên dồn cả người.
Xe không nhúc nhích.
Nguyên nghe tiếng chum sành rên lên, nghe tiếng dây thừng kêu, nghe tim mình đập như trống. Hơi nóng chạy từ bụng dưới lên lưng, lên vai. Hai chân nó trượt trong bùn, nhưng nó không nhấc chân, nó ghì xuống, như rễ cây bám vào đất.
– Đẩy!
Bốn người phu bên cạnh đẩy cùng lúc. Con trâu giật mình, kéo. Có tiếng bùn sũng kêu bụp, tiếng đá cọ vào bánh xe, rồi bánh xe nhích lên một chút.
– Đẩy nữa!
Nguyên cắn răng. Mắt nó mờ đi. Hơi thở của nó không còn ngắn không còn dài nữa, chỉ còn một nhịp duy nhất: đẩy. Cái bụng đói lép kẹp của nó cuộn lên, nhưng nó vẫn đẩy.
Chiếc xe trườn lên khỏi ổ bùn, bánh xe rời hố với một tiếng kêu ướt át, như một con vật được kéo ra khỏi đầm lầy. Nó trượt thẳng ra mặt đường đất cứng, đứng lại, an toàn.
Mấy người phu reo lên. Có người ôm lấy cái chum, kiểm tra lạt buộc. Một người vỗ lưng Nguyên bộp bộp, nó suýt ngã sấp.
Nguyên chống hai tay lên đầu gối, thở. Chân nó run. Cánh tay nó run. Trước mắt nó có những đốm đen nhảy múa.
Tiêu sư gầy gò đứng trước mặt nó từ lúc nào. Ông nhìn nó, rất lâu, lâu hơn mức người ta nhìn một đứa trẻ tình cờ giúp một tay.
– Nhóc tên gì?
– Sinh ạ. – Nó đáp. Cái tên bật ra dễ hơn lần trước. Nó tự hỏi liệu có nên thấy thế là tốt hay không.
– Quê đâu?
– Nhà cháu ở xa lắm ạ.
Ông gật đầu. Không hỏi thêm. Ông cúi xuống nhìn bàn tay nó, những vết rách ở lòng bàn tay còn chưa lành từ lò vôi, những vết chai ở cạnh bàn tay, gốc ngón cái, đúng chỗ người ta vẫn chai khi luyện quyền lâu năm. Ông nhìn đôi chân nó, bám vững trong bùn, rồi ngẩng lên.
– Ta là Đồng, tiêu sư của Hải Thuận. – Ông nói, giọng trầm và chậm. – Chú Đồng. Nhóc có đói không?
– Dạ… có ạ.
– Lên xe cuối ngồi nghỉ, có bát cháo nóng. – Ông nói. – Rồi theo đoàn vào Cửa Lạch. Tiêu cục đang thiếu người khuân hàng. Một tháng ăn ở, công hơn trăm đồng. Nhóc làm được không?
Nguyên đứng sững.
Một bát cháo nóng. Một chỗ ở. Công trả đủ, không trừ vì viên gạch nào bị vỡ. Nó nhìn ông, ngập ngừng, như nhìn một con đường đột nhiên mở ra giữa rừng.
– Dạ. – Nó nói. Giọng nó khản. – Cháu làm được.
Chú Đồng gật đầu, vỗ nhẹ lên vai nó, rồi quay đi, quát mấy người phu buộc lại dây.
Nguyên bước tới chiếc xe cuối, trèo lên phía sau thùng, ngồi xuống mép ván, hai chân lủng lẳng. Có người đưa nó một cái bát sành, trong có thứ cháo gạo trắng nóng hổi, mùi hành khô thơm đến mức nó muốn khóc. Nó ôm bát bằng cả hai tay, nhấp một ngụm. Hơi nóng chạy khắp ngực.
Nguyên vừa nuốt ngụm thứ hai thì nghe tiếng vó ngựa.
Dồn dập, từ đầu đoàn phi xuống, bùn bắn tung từng mảng. Mấy người phu dạt sang hai bên. Nguyên ngẩng lên, bát cháo vẫn kề môi.
Một con ngựa ô dừng sững cách chiếc xe vài bước chân. Trên lưng ngựa là một cô gái trạc tuổi nó, có khi lớn hơn một hai tuổi, da rám nắng, lông mày rậm, tóc buộc cao thành một túm như con trai, khoác áo tơi lá, ống tay áo nâu xắn quá khuỷu bất chấp trời rét. Một cây côn gỗ lim dài ngang vai tì trên yên. Cô nhìn Nguyên, rồi nhìn bát cháo, rồi nhìn Nguyên, mắt tròn xoe.
Cô gõ đầu côn xuống đất. Bộp. Một lần. Bùn văng lên mũi giày.
– Thằng nhóc kia! – Cô gái nói, to đến mức mấy con trâu cũng quay đầu. – Ai cho ngươi lên xe?
Nguyên nuốt vội ngụm cháo, suýt sặc.
Tiêu sư Đồng không quay đầu. Ông vẫn đang kiểm tra lạt buộc cái chum nghiêng, tay xoa lên mặt sành bóng nâu.
– Cô Cát. – Ông nói, giọng bình thản như nói về chuyện trời mưa. – Thằng nhóc này vừa giúp xe lên khỏi ổ bùn.