Chương 19: Côn gỗ lim
Nguyên dậy khi trời còn tối đặc.
Quanh kho hàng chẳng có con gà nào. Chỉ có tiếng sóng. Vậy mà nó vẫn tỉnh đúng canh tư, như thể trong người có sẵn một con gà riêng.
Nó gấp chăn, xỏ dép, lách qua hai chồng chum ra sân. Gió biển buổi sớm lạnh hơn gió núi, ướt và mặn, luồn vào cổ áo. Nó kéo cổ áo lên, cài lại cái nút trên cùng. Thói quen ấy có từ hôm đi tuyển, từ lời dặn của ông Chài. Sau đêm bờ suối, nó không bỏ được nữa.
Góc sân phía chuồng ngựa có một khoảng đất nện, không lát đá. Bên cạnh là một đống cát vàng đổ sẵn, chắc để đắp lại nền kho. Nguyên đứng vào khoảng đất ấy, hạ tấn.
Nó thở, chậm và đều. Con ngựa ô trong chuồng thò đầu qua thanh gỗ, phì một hơi ấm sực vào gáy nó. Nguyên giật mình, suýt bật cười, mất hơi, phải đếm lại từ đầu.
Đến hơi thở thứ bốn mươi thì cửa nhà chính kẹt mở.
Cô Cát bước ra, tóc buộc cao một túm, quần xắn gối, côn lim vác trên vai. Cô vươn vai, ngáp một cái thật to, rồi khựng lại giữa chừng khi thấy nó.
Nguyên không đứng dậy. Bỏ tấn giữa chừng thì phải tập lại từ đầu. Nó chỉ khẽ cúi đầu, mắt vẫn nhìn thẳng.
Cô Cát nhìn nó một lúc. Không hỏi. Không gõ côn. Cô đi ra giữa sân, quay lưng về phía nó, và bắt đầu múa. Côn xé gió vù vù, đều và nặng, mỗi lần đầu côn chạm đất là một tiếng bộp khô khốc. Nhưng cứ chừng mươi đường côn, cô lại xoay người theo một thế, và mắt lại lướt qua góc sân nơi nó đứng.
Gà ngoài phố bắt đầu gáy. Nguyên đứng dậy, hai chân tê rần. Cô Cát vẫn múa. Không ai nói với ai câu nào.
Việc đầu tiên tiêu sư Đồng giao cho nó là khuân muối.
Muối đóng trong bao cói, mỗi bao nặng gần bằng một thúng thóc, cạnh cói cứa vào vai rát như kiến đốt. Khuân xong muối thì xếp chum, xếp xong chum thì xuống chuồng cho ngựa ăn. Nguyên làm không nghỉ, không kêu, và trong lúc làm, mắt nó cứ tự đi đến những chỗ chẳng ai bảo nó nhìn.
Chuồng ngựa có tám ô mà chỉ bốn con ngựa. Bốn ô kia rơm cũ đã mục, máng gỗ phủ một lớp bụi mỏng. Giá binh khí dưới hiên kho có mười hai cái móc, chỉ treo năm cây thương. Chỗ ngủ của phu trong kho đầu dãy kê mười mấy tấm phản, mà tối đến, nó chỉ đếm được bảy người.
Nó không hỏi. Một cái chuồng bỏ trống thì ai nhìn cũng hiểu.
Sáng hôm sau, rồi sáng hôm sau nữa, Nguyên vẫn ra góc sân trước gà gáy. Và lần nào cô Cát cũng ra, múa côn, liếc nhìn, không nói gì.
Trưa ngày thứ hai, Nguyên theo anh Mừng ra bến bốc hàng.
Anh Mừng mười tám tuổi, người to bè như cái cối xay, cười thì hở cả lợi. Túi áo anh lúc nào cũng có một thứ gì đó để nhai: củ khoai luộc, nắm lạc rang, con mực khô nướng. Nguyên mới biết anh được hai ngày mà đã nghe anh kể hết chuyện con chó nhà hàng cá, chuyện ông lão gác cổng ngủ gật, chuyện đôi dép mới bị ai lấy mất ở đình.
– Chú em ăn không? – Anh Mừng xé đôi con mực, chìa nửa sang.
Nguyên cầm lấy. Nó ăn hết trong ba miếng, nhai rồi nuốt, không bỏ thừa cả cái râu.
Anh Mừng nhìn nó, há miệng.
– Chú em ăn như có người sắp cướp mất ấy.
– Quen rồi anh ạ.
– Quen gì mà quen. – Anh Mừng thò tay vào túi, lôi ra thêm một củ khoai, dúi vào tay nó. – Ở Hải Thuận không ai cướp cơm của ai đâu. Ông chủ khó tính thật, nhưng chưa để thằng nào đói bao giờ.
Hai người khuân cá khô từ thuyền lên xe. Nắng trưa tháng Mười Một nhạt và trong, mặt lạch lấp loá, mùi nước mắm ủ trong các lu sành hai bên bến nồng đến cay mắt. Anh Mừng vác mỗi lần hai sọt, miệng không ngừng.
– Hồi bà chủ còn, Hải Thuận chạy ba đoàn xe một lúc đấy. – Anh nói. – Anh nghe các chú kể thế. Bà mất từ hồi cô Cát còn bé tẹo. Ông chủ đi chuyến nào cũng thắp hương cho bà, lúc đi một lần, lúc về một lần.
– Em thấy rồi.
– À, mà chú em nhớ, đừng gọi cô ấy là tiểu thư nhé. – Anh Mừng hạ giọng, như sắp kể chuyện ma. – Năm ngoái có thằng phu mới gọi cô ấy là tiểu thư Cát Tường. Cô ấy bắt nó khuân một mình cả xe muối từ bến về kho. Cô ấy đi bên cạnh, khuân cùng, không nghỉ lấy một lần. Thằng ấy về nằm bẹp ba ngày.
Nguyên nghĩ một lúc.
– Cô ấy khuân cùng à?
– Thì thế mới sợ. – Anh Mừng gật gù. – Phạt người ta mà mình cũng chịu phạt.
Anh nhai lạc, rồi nhìn về phía cuối bến, nơi mấy chiếc thuyền lớn buồm nâu đang ăn hàng, cờ cắm đầu mũi không phải cờ chàm của Hải Thuận.
– Mấy năm nay hàng tốt về hết tay mấy nhà lớn. Người ta hạ giá, ông chủ không chịu hạ theo. Ông bảo hạ giá thì phải bớt người, bớt người thì hàng không đến nơi. – Anh nhún vai. – Thế là mất mối. Anh không hiểu chuyện buôn bán, nhưng ngựa thì bán bớt hai con năm ngoái rồi. Người cũng thế. Giờ chuyến xa ông chủ mới thuê thêm phu ngoài bến, xong chuyến là trả về.
Nguyên nhớ bốn ô chuồng trống. Nó không nói gì.
Khuân xong xe thứ hai, anh Mừng ngồi bệt xuống bậc đá, lau mồ hôi, mắt đảo quanh một vòng rồi ghé sát vào nó. Trên cổ anh đeo một túi bùa vải đỏ, đã bạc màu, và tay anh cứ mân mê nó.
– Chú em nghe chuyện Đại Ngàn chưa?
– Chuyện gì ạ?
– Ma rừng. – Anh Mừng nói, gần như thì thầm. – Ma rừng hút máu. Người chết khô như con mắm phơi, da dính vào xương, không còn giọt máu nào. Cả bến đồn ầm lên. Lão Hưng đi khắp các nhà tìm người chở hàng, nhà nào nghe xong cũng lắc đầu.
Nguyên nhớ giọng ông Hưng đêm hôm trước, thở dốc, ướt như người vừa chạy.
– Làng ấy trẻ con ốm thật hả anh?
– Thì lão Hưng bảo thế. Hết thuốc từ tháng trước. – Anh Mừng rùng mình, nắm chặt túi bùa. – Nhưng thuốc thì để quan trên lo. Anh thì anh không đi. Có trả gấp ba anh cũng không đi.
Chiều về, xe đi ngang qua nhà gạch có ngọn đèn đồng. Nguyên quay đầu nhìn. Cửa khép hờ, bên trong tối, có một người đàn ông ngồi ghi chép bên ngọn đèn nhỏ.
Hai ngày. Còn hai mươi tám ngày nữa.
Một trăm rưỡi đồng. Không nhiều. Nhưng một trăm rưỡi đồng ở làng Chân Mây là hơn một thúng gạo, là mấy tháng mẹ không phải đếm hạt trước khi bắc nồi. Nó không biết sẽ viết gì lên lá thư, gửi cho ai, ký tên gì. Nó chỉ biết phải đủ ba mươi ngày đã.
Chiều ngày thứ ba, Nguyên đang bổ củi sau dãy kho thì một cây gậy tre bay tới, lăn lông lốc dưới chân nó.
Nó ngẩng lên. Cô Cát đứng ở góc sân, côn lim chống xuống đất.
– Nhặt lên.
– Dạ?
– Đứng tấn giỏi thì đỡ thử ta mười côn.
Mấy người phu đang ngồi uống nước dưới hiên kho quay ra nhìn. Anh Mừng đang nhai dở miếng khoai, quên cả nuốt.
– Tôi không biết đánh côn ạ. – Nguyên nói.
– Ai bảo ngươi đánh. Đỡ thôi.
– Tôi còn phải bổ củi.
– Củi để đấy, nó không chạy mất đâu.
– Cô Cát. – Anh Mừng lên tiếng, giọng lí nhí. – Nó còn bé…
– Bé mà đẩy được xe sa lầy. – Cô Cát không quay đầu. – Ba sáng liền đứng tấn trước gà gáy. Ta muốn xem cái tấn ấy đứng được bao lâu.
Nguyên nhìn quanh. Tiêu sư Đồng đã ra bến từ trưa. Ông chủ ở trong nhà. Đám phu đã kéo cả lại, đứa ngồi, đứa đứng, mắt sáng lên như xem hội.
Nó nghĩ rất nhanh. Càng từ chối thì người ta càng tò mò. Càng tò mò thì người ta càng hỏi. Đỡ mười côn, ngã xuống, thế là xong, người ta sẽ quên.
Nó cúi xuống nhặt cây gậy.
Cô Cát gật đầu một cái, xoay côn về phía trước.
– Một.
Côn bổ thẳng xuống vai trái.
Nguyên không nhìn đầu côn. Nó nhìn vai cô. Vai phải cô nhô lên trước một chút, nhanh đến mức nếu không chờ sẵn thì chẳng ai thấy. Nó nghiêng người. Côn sượt qua tay áo, đập xuống đất. Bụi tung lên.
– Hai.
Côn quét ngang, thấp, nhắm vào chân. Nguyên không nhảy. Nó hạ tấn, gồng chân. Đầu côn đập vào ống chân, đau tê buốt lên tận đầu gối. Nhưng nó không ngã.
Dưới hiên có người huýt sáo.
– Ba. Bốn.
Hai côn liền nhau, một trên một dưới. Nguyên đưa gậy tre lên đỡ côn trên. Hai cánh tay rung bần bật như vừa nện vào đá. Thân tre kêu một tiếng rắc, nứt dọc. Côn dưới quất vào hông, nó lảo đảo, chân trượt trên đất nện.
Nó hiểu ra ngay. Không đỡ thẳng được. Tay cô không phải tay người. Không đỡ được thì phải lách.
– Năm.
Nó lùi.
– Sáu. Bảy.
Nó lùi tiếp, mỗi bước một nhịp, mắt không rời vai cô. Côn vù qua trước mặt, vù qua bên sườn. Cô Cát dồn tới, mày nhíu lại.
– Đánh lại đi! – Cô quát. – Ngươi định lùi đến tận biển à?
– Tôi làm thuê. – Nguyên đáp, hơi thở vẫn đều. – Đánh con gái ông chủ thì mất việc.
Dưới hiên, đám phu cười ồ. Anh Mừng sặc miếng khoai, ho sù sụ.
Mặt cô Cát đỏ lên. Côn thứ tám tới nhanh hơn, mạnh hơn hẳn.
Nguyên lùi thêm một bước, và gót chân lún xuống. Cát. Nó đã lùi tới đống cát bên chuồng ngựa. Hai bàn chân ngập xuống tới mắt cá, như cọc đóng xuống bãi bồi. Côn quét vào cẳng chân nó, nhưng chân không trượt nữa. Nó đứng nguyên chỗ cũ.
Cô Cát khựng nửa nhịp. Mắt cô liếc xuống đống cát, rồi liếc lên mặt nó.
– Chín!
Côn quét ngang, cao, ngang tầm cổ. Đầu côn lướt sát sau gáy, chạm vào cổ áo.
Nguyên giật người. Không phải nghiêng như mọi lần trước, mà giật cả thân, như bị lửa táp. Gậy tre suýt tuột khỏi tay. Bàn tay trái nó vụt lên ôm lấy gáy, ôm chặt, trước khi nó kịp nghĩ gì.
Côn của cô Cát dừng giữa không trung.
– Ta có đánh vào đầu đâu. – Cô nói, giọng chưng hửng.
Nguyên bỏ tay xuống. Cổ áo vẫn cài kín. Tim nó đập thình thịch, đập to đến mức nó tưởng cả sân đều nghe thấy.
– Mười. – Cô Cát nói, nhỏ hơn.
Côn đánh thẳng vào giữa thân gậy. Cây tre nứt văng khỏi tay nó, bay xa hai sải, rơi xuống mặt sân lát đá. Lực dội ngược khiến Nguyên ngã ngồi xuống đống cát, hai tay chống ra sau.
Sân im phắc.
– Luyện Thể hậu kỳ.
Giọng trầm và chậm, vang lên từ phía hiên nhà chính.
Mọi người quay lại. Ông Quách đứng ở đầu hiên từ lúc nào, hai tay chắp sau lưng. Đám phu vội cúi đầu, đứa đứng dậy, đứa giả vờ uống nước.
– Đỡ côn bằng gân cốt, không có lấy một chút hơi khí. Chưa có chân khí. – Ông nói tiếp, mắt nhìn Nguyên. – Tự tập à?
Nguyên lồm cồm đứng lên khỏi đống cát, phủi quần.
– Dạ.
Ông Quách bước xuống sân, đi chậm về phía nó. Ông dừng cách nó ba bước, nhìn xuống đôi chân nó vẫn còn in hai cái lỗ trên cát.
– Thế tấn ấy là của võ quán dạy công pháp khuynh hướng Hoà. – Ông nói. – Thấp mà không nặng, tròn mà không lỏng. Không phải thứ người ta tự nghĩ ra. Học ở đâu?
– Cháu nhìn người ta tập qua tường ạ.
Ông Quách nhìn nó rất lâu. Cái nhìn hôm trước, như nhìn một cái chum chưa biết nứt hay không. Nguyên đứng yên, không cúi đầu, không nhìn đi chỗ khác. Bàn tay nó không đưa lên ngực, dù chỗ ấy, chiếc lục lạc bọc vải đang ép vào da.
Ông vuốt râu một lần.
Rồi ông quay sang con gái.
– Mười côn mà không ngã sấp. – Ông nói.
– Nó ngã rồi đấy cha. – Cô Cát nói, nhưng giọng không còn to như lúc nãy.
– Ngã ngồi. – Ông Quách nói. – Không ngã sấp. Con nhớ lấy.
Ông không nói thêm. Ông quay lưng, đi về phía chuồng ngựa, xem con ngựa ô ăn cỏ như thể chẳng có chuyện gì vừa xảy ra.
Cô Cát đứng yên giữa sân. Cô nhìn xuống cây côn lim trong tay, nhìn lâu, như nhìn một thứ mình đã cầm suốt bao năm mà bây giờ mới thấy rõ. Nguyên không biết cô đang nghĩ gì. Nó chỉ thấy cô mím môi, rồi nhả ra, rồi lại mím.
Đám phu tản đi. Anh Mừng đi ngang qua, vỗ vai nó một cái thật mạnh, thì thào: "Chú em gan thật", rồi lủi mất.
Nguyên cúi xuống nhặt mấy mảnh tre. Hai cánh tay nó vẫn còn run.
Luyện Thể hậu kỳ.
Mấy năm đứng tấn sau bếp quán cô Mận, nhìn qua lỗ gạch, đọc từng chữ trong cuốn sách rách với ông đồ Lãng. Rồi thêm hai năm bên suối, ông Chài ngồi câu không mồi, thỉnh thoảng nói một tiếng "ừ". Tất cả những thứ ấy, hôm nay có một cái tên. Thầy Cao chưa bao giờ nói cho nó biết. Ông Chài cũng không. Có lẽ vì họ không muốn nó biết. Có lẽ vì nói ra thì phải nói luôn cả câu sau.
Chưa có chân khí.
Nó nghĩ đến những trang sách sau phần Luyện Thể, chỉ còn mẩu vụn, chữ đứt giữa chừng. Nó đã đứng ở mép cuốn sách. Bước tiếp thì không còn chỗ đặt chân.
Có vật gì rơi bịch xuống bên cạnh nó. Một lọ sành nhỏ, nút lá chuối.
– Dầu xoa. – Cô Cát đứng trên đầu nó, vác côn trên vai, mặt quay đi chỗ khác. – Xoa vào ống chân. Mai sưng thì đừng có kêu.
– Dạ. Cảm ơn cô.
Cô quay người định đi, rồi dừng lại.
– Lúc nãy. Côn thứ chín. – Cô nói, không quay đầu. – Sao ngươi giật mình như thế?
Nguyên im một nhịp.
– Tôi sợ bị đánh vào đầu.
Cô Cát quay lại nhìn nó. Mày cô nhíu lại, cái nhíu mày của người vừa nghe một câu trả lời hợp lý mà không tin. Nhưng cô không hỏi nữa.
– Đồ kín như bưng. – Cô nói, rồi đi, đầu côn gõ xuống đá cộp, cộp, chậm hơn mọi khi.
Tối hôm ấy, tiêu sư Đồng giao cho Nguyên quét hiên nhà chính.
Gió biển thổi lá bàng khô từ ngoài phố vào, dạt thành từng đống dưới chân cột. Nguyên quét chậm, từng nhát. Trong nhà, đèn dầu còn sáng. Cửa khép, nhưng vách gỗ ở đây cũng mỏng như vách kho.
– Con đi được. – Tiếng cô Cát, to, nhanh. – Con thuộc đường lên Đại Ngàn hơn cả chú Đồng. Năm ngoái con đi rồi.
– Không. – Giọng ông Quách.
– Cha cần người. Đoàn thiếu người.
– Không.
– Cha! – Cô Cát nói to hơn. – Hai nhà kia đều từ chối. Cha có bao giờ nhận hàng liều đâu. Ba mươi năm cha chưa nhận chuyến nào người ta từ chối. Sao lần này cha lại nhận?
Im lặng.
– Cha thiếu tiền à?
Im lặng dài hơn. Nguyên đứng yên, cây chổi trong tay. Nó nghe tiếng bàn tính lách cách một lần, rồi thôi.
– Cát Tường. – Ông Quách nói. Chỉ hai chữ, không to, không giận.
– Cha lúc nào cũng thế. – Giọng cô Cát run lên. – Lúc nào cũng "Cát Tường" rồi im. Con hỏi thì cha im. Con lớn rồi, cha ạ.
– Con đi ngủ đi.
Tiếng ghế xô. Tiếng chân dậm mạnh qua gian bên. Một cánh cửa đóng sầm lại.
Nguyên cúi xuống, quét tiếp. Lá bàng sột soạt dưới chổi. Trong nhà, tiếng bàn tính lại lách cách, rồi thôi.
Cổng kẹt mở. Tiêu sư Đồng bước vào, áo còn ướt sương. Ông đi thẳng lên hiên. Ông Quách cũng vừa bước ra.
– Chủ tiêu. – Ông nói nhỏ. – Hai đứa bên kho đầu xin nghỉ chuyến này. Một đứa bảo mẹ ốm. Một đứa không nói gì, chỉ lắc đầu.
Ông Quách không hỏi vì sao. Ai ở Cửa Lạch mấy hôm nay cũng biết vì sao.
– Còn bao nhiêu?
– Tính cả tôi, bảy. Năm xe thì cần mười.
Ông Quách đứng một lúc ở đầu hiên. Rồi ông bước xuống sân.
Đám phu đang ngồi quanh bếp lửa dưới hiên kho, bát cơm tối trên tay. Thấy ông chủ đi ra, tất cả ngừng nhai.
– Chuyến hàng của ông Hưng, ngày kia đi. – Ông Quách nói, giọng đều. – Muối và thuốc, lên làng cuối đường Đại Ngàn. Công gấp đôi. Ai đi thì đã đi. Còn thiếu ba người.
Không ai nói gì.
Lửa bếp nổ lép bép. Ngoài kia, sóng đập vào bờ lạch, đều, sâu, từng hơi một.
– Còn ai dám đi không?
Anh Mừng cúi gằm xuống bát cơm, bàn tay nắm chặt túi bùa đỏ trên cổ. Mấy người phu khác nhìn lửa, nhìn đất, nhìn bất cứ đâu, trừ ông chủ.
Nguyên đứng ở đầu hiên, cây chổi trong tay.
Nó nghĩ đến lời ông Hưng: trẻ con ho sặc sụa, già cả nằm liệt. Nghĩ đến làng Chân Mây năm đói, cái năm cả làng chẳng ai mang lên được một bao gạo, vì đường xa, vì ai cũng sợ.
Nó nghĩ đến hai mươi bảy ngày còn lại của tháng thử việc.
Và nó nghĩ, rất nhanh, rất khẽ, đến lời ông Chài: Đừng để ai biết. Đi một chuyến hàng thì ai biết được gì. Người ta chỉ thấy thêm một thằng phu.
Nguyên dựng cây chổi vào cột hiên.
– Cháu đi.
Cả sân quay lại nhìn nó.
Ở đầu hiên bên kia, trong bóng tối ngoài quầng đèn, cô Cát đứng đó từ bao giờ. Nguyên thấy bàn tay cô siết chặt lấy cây côn lim, chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.