Chương 20: Đèo Sương
Cả sân im lặng nhìn Nguyên.
Lửa bếp vẫn nổ lép bép dưới hiên kho. Một người phu cầm đôi đũa lơ lửng giữa chừng, quên cả gắp. Anh Mừng cúi gằm xuống bát cơm, không ngẩng lên.
Ông Quách không nói gì ngay. Ông đứng giữa sân, hai tay chắp sau lưng, nhìn nó rất lâu, như nhìn một chiếc xe hàng trước khi cho lăn bánh, xem bánh có lỏng, càng có nứt, dây có chùng.
– Cháu biết làng ấy có gì không? – Ông hỏi.
– Có trẻ con ốm ạ. – Nguyên đáp.
Mấy người phu nhìn nhau. Có người khịt mũi, như muốn cười mà không cười nổi. Ông Quách thì không cười. Ông vuốt râu một lần, rồi quay sang tiêu sư Đồng.
– Nó theo anh.
– Vâng. – Chú Đồng nói.
– Vẫn thiếu hai. – Ông Quách nói tiếp, giọng đều như đọc sổ. – Thôi bớt một xe. Dồn muối sang ba xe kia, thuốc chất lên trên, buộc chặt. Bốn xe, tám người đẩy, anh dẫn. Dốc đèo Sương thì xe nặng phải dừng nghỉ nhiều hơn, chậm nửa ngày cũng được. Chậm mà đến.
– Còn chủ tiêu?
– Ta ở nhà. – Ông Quách nói. – Ở nhà còn việc.
Ông không nói việc gì. Nó cũng không hỏi, chỉ thấy cái cách ông nói chữ việc, ngắn, cụt, như người đặt một vật nặng xuống rồi lấy tay che đi.
Ở đầu hiên bên kia, cô Cát vẫn đứng trong bóng tối. Nó nghe tiếng đầu côn chạm xuống nền đá một lần, rất khẽ. Rồi tiếng chân đi vào trong nhà. Rồi tiếng cửa đóng.
Cô không nói một lời nào.
Sáng hôm sau, cả tiêu cục dậy sớm hơn thường lệ.
Nguyên được giao việc khuân muối với ông Thìn. Ông lão gác cổng gầy như que củi, lưng còng, đôi mắt lúc nào cũng díp lại như sắp ngủ, nhưng tay buộc lạt thì nhanh đến lạ. Ông không khuân được bao muối nào, chỉ ngồi xổm cạnh xe, chờ Nguyên đặt bao xuống là thắt dây, kéo một cái, thắt thêm một nút, chặt đến mức gõ vào nghe bôm bốp như gõ vào mặt trống.
– Buộc thế này mưa không ngấm. – Ông lí nhí. – Muối mà ướt thì thành nước, chở lên đến nơi chỉ còn cái bao.
Nó gật đầu, đặt thêm một bao.
Mưa phùn từ đêm vẫn chưa tạnh, rắc lên sân đá một lớp ướt mỏng, lạnh, dính vào tóc, vào lông mày. Gió bấc thổi từ phía biển vào, mang theo mùi tanh của bãi triều. Bên kia sân, mấy người phu đang dỡ một xe xuống, chia hàng sang ba xe còn lại, vừa làm vừa cằn nhằn với nhau về con đường lên Đại Ngàn.
Đến bao muối thứ hai mươi, ông Thìn bỗng nói, không đầu không đuôi:
– Năm ngoái cũng muối với thuốc.
Nguyên dừng tay.
– Dạ?
– Năm ngoái. Cũng chuyến này. Cũng đường này. – Ông Thìn kéo dây, thắt nút. – Đi năm xe, về bốn. Đi mười hai người, về mười một.
Nó đặt bao muối xuống, chậm.
– Một người… đi đâu ạ?
– Ai biết. – Ông Thìn thở ra, hơi thở thành khói trắng trước mặt. – Thằng Kiên. Em ruột thằng Đồng. Đêm thứ ba, gần đến Khe Sến, cả đoàn nghỉ. Sáng ra không thấy nó đâu. Không thấy cái xe cuối, không thấy hàng. Không thấy máu. Người ta đi tìm khắp rừng ba ngày, không thấy cái xác.
Ông thắt thêm một nút nữa, chặt hơn mức cần.
– Nó dạy côn cho cô Cát từ hồi cô còn bé tí, bé hơn cả cây côn. Cô Cát đi chuyến ấy. Về đến nhà, nửa tháng cô không nói một câu, cháu ạ. Cái con bé nói như mõ ấy, nửa tháng không nói một câu. Từ đấy ông chủ không cho cô đi đường Đại Ngàn nữa.
Nguyên không biết phải nói gì. Nó cúi xuống nhấc bao muối tiếp theo, đặt lên xe, và ông Thìn lại buộc, lại thắt, như thể vừa rồi chưa từng nói câu nào.
Lúc quay về kho lấy thêm muối, Nguyên đi ngang qua giá binh khí dưới hiên.
Mười hai cái móc. Năm cây thương. Bảy cái móc trống, bụi bám một lớp mỏng như tro. Nhưng có một cái móc, cái thứ ba từ bên trái, sạch bong. Gỗ quanh móc bóng lên, như có người ngày nào cũng lau.
Chú Đồng đang đứng trước giá.
Ông không cầm gì trong tay. Ông chỉ đứng đó, nhìn cái móc trống ấy, lưng thẳng, hai tay buông xuôi. Mưa phùn rơi lên vai áo ông, thấm thành từng chấm sẫm.
Nguyên đi chậm lại, rồi đi vòng ra phía sau, khuân bao muối mà không để chân dẫm lên vũng nước. Nó không muốn chú Đồng biết nó đã nhìn thấy.
Bữa trưa, anh Mừng ngồi cách Nguyên hai người.
Thường ngày anh sẽ chen vào ngồi sát bên, dúi cho nó củ khoai, nói chuyện con chó nhà hàng cá. Hôm nay anh ăn cắm cúi, mắt không rời bát. Đến khi Nguyên đứng dậy đi lấy thêm nước, anh mới ngẩng lên, nhìn theo, rồi lại cúi xuống.
Đám phu ăn xong thì ngồi quanh bếp, kể chuyện rừng. Chuyện hổ vằn bạc, không ai dám gọi tên, chỉ gọi là ông Ba Mươi. Chuyện đàn khỉ mặt đỏ kêu inh ỏi khi có người lạ. Chuyện người chết khô, kể đi kể lại đến mức mỗi người kể một kiểu.
Anh Mừng im suốt. Rồi bỗng anh nói, giọng nhỏ, như nói với cái bát:
– Hồi bé, mẹ tao dặn, đi rừng mà nghe tiếng lục lạc thì chạy.
Mấy người phu quay sang.
– Lục lạc gì? – Một người hỏi.
– Lục lạc ma. – Anh Mừng nói. – Mẹ tao bảo ngày xưa có một làng chết sạch, sáng ra người ta thấy khắp làng toàn lục lạc bạc rơi vãi. Từ đấy hễ trong rừng có tiếng lục lạc là có ma đi bắt người. Đứa nào không ngủ, mẹ tao lại lắc cái chìa khoá leng keng ngoài cửa, bảo lục lạc ma đến kìa, thế là im thin thít.
Đám phu cười ồ. Anh Mừng cũng cười, nhưng tay vẫn nắm cái túi bùa đỏ trên cổ.
Nguyên không cười.
Bàn tay nó đã tự đưa lên ngực từ lúc nào, ấn lên chỗ chiếc lục lạc bọc vải nằm dưới áo. Chiếc lục lạc im lặng, không kêu một tiếng. Nó vẫn giữ tay ở đấy một lúc lâu, cho đến khi nhận ra mình đang làm gì, mới bỏ xuống, cầm bát nước uống một hơi.
Lục lạc ma.
Tối hôm ấy, Nguyên đang trải chiếu trong kho thì có tiếng côn gõ lên khung cửa.
Cộp. Một lần.
Cô Cát đứng ở ngưỡng cửa, không bước vào. Đèn dầu trong kho chỉ đủ chiếu tới nửa mặt cô. Nửa kia chìm trong bóng tối ngoài sân.
– Ngươi đi làm gì? – Cô hỏi.
Nó ngồi dậy.
– Công gấp đôi ạ.
Đó là sự thật. Một nửa. Nửa còn lại là tiếng ho của trẻ con trong lời ông Hưng. Nó không thấy cần phải nói nửa ấy.
Cô Cát im một lúc.
– Ông Thìn kể cho ngươi rồi phải không? – Cô nói. – Ông ấy kể cho tất cả người mới. Kể như kể chuyện thời tiết.
Nó không đáp. Không đáp tức là có.
Cô Cát nhìn xuống cây côn trong tay. Ánh đèn chạy dọc thân gỗ lim, sẫm, bóng, có những chỗ mòn trắng vì bàn tay nắm lâu năm.
– Chú Kiên có một cây côn giống thế này. – Cô nói, giọng không to như mọi khi, cũng không nhỏ, chỉ phẳng, như mặt nước lúc chưa có gió. – Gỗ lim. Cán khắc một chữ Kiên, chính tay chú khắc, xấu lắm, nét nọ dẫm lên nét kia. Ta hay chê.
Cô ngừng.
– Năm ngoái người ta tìm ba ngày. Không thấy chú. Không thấy cây côn.
Gió ngoài sân thổi lùa vào, ngọn đèn dầu lả đi rồi đứng lại.
– Nếu ngươi thấy một cây côn như thế, – cô nói, – thì mang về cho ta.
Nguyên nhìn cô. Nó định hỏi: thế còn chú Kiên? Nhưng nó nhìn thấy bàn tay cô siết cán côn, siết như hôm qua ở đầu hiên, và nó hiểu cô đã không dám nói câu kia ra.
– Dạ. – Nó nói.
Cô Cát gật đầu một cái, rất nhanh. Rồi cô quay đi. Lần này đầu côn không gõ xuống đá. Cô xách côn trên tay, đi qua sân, và tiếng bước chân nhẹ đến mức Nguyên chỉ nghe thấy tiếng mưa.
Nó nằm xuống, nhìn lên mái kho tối om, nghe tiếng sóng ngoài lạch. Lần đầu tiên nó thấy cô gái hay quát ấy cũng có một chỗ không ai được chạm vào.
Trời còn tối, đoàn xe đã xếp hàng trong sân.
Bốn chiếc xe trâu, muối chất cao, phủ lá chuối và tấm cót, dây buộc căng như dây đàn. Hòm thuốc chằng trên cùng, bọc vải dầu. Chú Đồng đi một vòng, kiểm tra từng nút buộc, từng bánh xe, từng cái ách trâu. Ông không nói gì. Cây thương của ông dựa vào xe đầu, lưỡi thương bọc vải.
Ông Quách đứng trước bàn thờ ở góc hiên, thắp ba nén hương. Một nén cho thổ công. Hai nén cho bài vị gỗ sẫm màu bên cạnh. Ông đứng lâu hơn lần trước. Khói hương bốc lên thẳng, rồi gặp gió thì tạt ngang, tan vào sương.
– Hàng đến nơi mới là hàng. – Ông nói, không quay lại. – Người về nhà mới là người.
Cả đoàn im lặng cúi đầu.
Đúng lúc ấy, cổng kẹt mở.
Anh Mừng đứng ở đó, áo tơi lá khoác trên vai, một tay ôm bọc vải căng phồng, tay kia nắm chặt cái túi bùa đỏ trên cổ. Mặt anh tái, môi mím lại, mắt đỏ như người cả đêm không ngủ.
– Anh đi. – Anh nói. Rồi như sợ người ta không nghe thấy, nói to hơn: – Tôi đi, ông chủ.
Mấy người phu nhìn nhau. Có người phì cười. Chú Đồng thì không cười. Ông chỉ hất cằm về phía xe thứ tư, và anh Mừng lật đật đi tới, đặt bọc vải lên càng xe. Bọc vải rơi ra một củ khoai luộc, lăn lông lốc trên sân đá. Anh cúi nhặt, phủi, nhét lại.
Đi qua chỗ nó, anh không nhìn, chỉ lí nhí:
– Khoai đủ cho cả hai đứa.
Nguyên không nói gì. Nó chỉ đẩy giúp anh cái bọc vải vào sâu hơn trong thùng xe, cho khỏi rơi.
Chín người, bốn xe. Đủ.
Ông Quách quay lại nhìn đoàn. Rồi mắt ông dừng ở một chỗ khác, phía sau đoàn xe, sau sân, nơi gian bên của nhà chính. Cánh cửa phòng ở đó đóng im. Không có đèn. Không có tiếng động.
Ông nhìn cánh cửa ấy rất lâu.
Rồi ông phất tay.
– Đi.
Đường đi về phía tây ra khỏi Cửa Lạch qua những ruộng muối.
Nguyên chưa từng thấy ruộng muối. Những ô đất phẳng lì, nện chặt, chia vuông vức như bàn cờ, nước biển dẫn vào từng ô, đọng lại, phơi dưới trời. Mùa này trời mưa nên ruộng bỏ không, mặt đất xám ướt, chỉ còn mấy cái chòi canh xiêu vẹo đứng trơ giữa đồng. Nó nghĩ đến những bao muối trên xe. Chúng đã từng là nước biển ở đây, giờ sẽ đi ba ngày đường lên rừng.
Rồi ruộng muối nhường chỗ cho đồi sim. Đồi thấp, tròn, lúp xúp những bụi sim lá dày, quả đã rụng hết, chỉ còn vài quả tím sót lại khô quắt trên cành. Đất đỏ, bám vào bánh xe thành từng tảng. Trâu thở phì phò. Xe đi chậm.
Nguyên đẩy xe thứ hai cùng một người phu tên Sửu, người ít nói, chỉ biết hô dô lúc lên dốc. Nó đẩy bằng hông, và để ý thấy chú Đồng ngoái lại nhìn mỗi khi xe nó qua chỗ khó.
Quá trưa, núi hiện ra.
Núi không cao vọt như Vân Lĩnh, mà trải dài, xanh thẫm, lớp này chồng lên lớp kia, càng xa càng nhạt. Và trên lưng núi, sương. Không phải sương sớm tan khi mặt trời lên. Đây là sương nằm đó, dày, trắng đục, quấn quanh lưng chừng núi như một dải khăn, che mất con đường lẫn đỉnh đèo.
– Đèo Sương. – Anh Mừng nói từ xe sau, giọng run run. – Quanh năm thế đấy.
Đoàn xe lên dốc. Sương ùa xuống.
Thế giới thu nhỏ lại còn vài sải trước mặt. Nó nghe tiếng bánh xe nghiến sỏi, tiếng trâu thở, tiếng người phu hô, nhưng không thấy xe đầu đâu nữa. Hơi sương đọng lên mặt, lên mi mắt, lạnh buốt. Áo nó ướt dần, không phải vì mưa, mà vì chính không khí.
Rồi nó nghe tiếng chuông.
Boong.
Tiếng chuông trầm, chậm, ngân rất lâu, như từ trên trời rơi xuống, đi xuyên qua lớp sương mà không bị sương nuốt mất. Nguyên ngẩng lên.
Boong.
Đúng lúc ấy, một cơn gió từ thung lũng thổi ngược lên, xé toạc một mảng sương. Trên cao, rất cao, ở lưng chừng vách núi phía bên phải con đèo, hiện ra một mái chùa. Mái ngói cũ, cong vút ở bốn góc như cánh chim đang mở. Một hàng cây cổ thụ đứng quanh. Một làn khói mỏng bay lên từ đâu đó phía sau mái.
Chỉ trong mấy hơi thở. Rồi sương khép lại, mái chùa biến mất, như chưa từng ở đó.
Boong.
– Thiền Lâm Tự. – Chú Đồng nói. Ông đã đi lùi lại bên xe nó từ lúc nào, mắt cũng nhìn lên chỗ mái chùa vừa khuất. – Sư ở đấy chữa bệnh không lấy tiền.
Nguyên nhìn lên mãi chỗ ấy.
– Chú đã lên đấy chưa ạ?
– Một lần. – Chú Đồng nói. Rồi ông đi lên phía đầu đoàn, không nói thêm.
Đoàn dựng trại ở một bãi đất bằng lưng đèo, dưới một vách đá nhô ra như mái hiên. Bốn xe quây thành vòng, trâu buộc vào giữa. Lửa nhóm bằng củi khô mang theo, khói bị sương ép xuống, bò là là trên mặt đất.
Ăn xong, Nguyên đi ra rìa bãi, chỗ đất còn khô dưới vách đá, hạ tấn.
Sương đặc đến mức nó không thấy lửa trại sau lưng, chỉ thấy một quầng sáng đỏ mờ mờ. Tiếng người nói vọng lại như từ rất xa. Hơi lạnh thấm vào từng thớ thịt. Nó thở, và theo mỗi hơi thở, cái lạnh ấy như lùi lại một chút.
Trên kia, chùa đã thôi đánh chuông. Rừng im phắc.
Nó thở đến hơi thứ sáu mươi thì nghe thấy.
Tiếng vó ngựa.
Từ phía sau, dưới chân đèo, dội lên theo con đường đá. Đều, nhanh, gấp gáp. Một con ngựa. Chỉ một.
Nguyên đứng bật dậy. Quanh lửa trại, tiếng nói tắt ngấm. Có tiếng thương rút khỏi vải bọc, tiếng chú Đồng quát khẽ: Đứng yên.
Vó ngựa dội lên mỗi lúc một gần, rồi chậm lại, rồi dừng ở mép bãi.
Trong sương, một bóng ngựa ô hiện ra trước, hơi thở phì thành hai luồng trắng. Rồi người trên lưng ngựa: áo tơi lá ướt sũng, tóc buộc cao bết vào trán, cây côn lim vác ngang vai.
Than giậm chân, lắc bờm, té nước sương ra tứ phía.
Cô Cát nhìn khắp lượt cả đoàn, nhìn những cây thương vừa giương lên, nhìn Nguyên đứng sững dưới vách đá. Rồi cô nhìn thẳng vào chú Đồng.
– Thiếu một người, phải không, chú Đồng?