Lạc Hồng Tiên Lộ

Chương 22: Khe Sến

Sáng hôm sau, không ai nhắc đến người đàn ông đeo gùi.

Nguyên chờ chú Đồng nói gì đó, chờ mấy người phu bàn tán, chờ anh Mừng hỏi ma hay người. Nhưng cả đoàn thu dọn trại trong im lặng, nhanh hơn mọi ngày, như thể ai cũng muốn rời khỏi bìa rừng này càng sớm càng tốt. Chỉ có một điều thay đổi: trước khi đi, chú Đồng đổ hết nước trong mấy cái ống tre đựng nước của đoàn ra, rồi bắt đun sôi nước suối, để nguội, đổ đầy lại. Ông tự tay làm, không giao cho ai.

Đường rừng ngày thứ ba hẹp hơn, tối hơn. Cây cổ thụ khép tán, ánh sáng lọt xuống như lọt qua kẽ mái nhà dột. Bánh xe lún vào lớp lá mục, trâu thở nặng nhọc. Không ai nói chuyện. Cả tiếng hô dô của phu Sửu cũng nhỏ đi.

Gần trưa, con đường đổ xuống một khoảnh đất trống bên suối.

Khoảnh đất bằng phẳng, cỏ mọc thấp, có mấy tảng đá xám nằm rải rác như ai đó bày ra để ngồi. Con suối chảy róc rách bên cạnh, nước trong, đáy sỏi trắng. Một chỗ nghỉ chân đẹp đến mức nếu là ngày thường, cả đoàn hẳn đã dừng lại nấu cơm.

Chú Đồng dừng lại.

Ông không giơ tay ra hiệu. Ông chỉ đứng ở mép khoảnh đất, cây thương dựng bên cạnh, nhìn. Nhìn những tảng đá. Nhìn con suối. Nhìn bìa rừng phía bên kia, nơi bóng cây đen đặc như một bức tường. Ông nhìn rất lâu, lâu đến mức con trâu xe đầu sốt ruột rống lên một tiếng.

Cô Cát đứng sau xe thứ hai, cách Nguyên một sải tay. Cô cúi đầu. Bàn tay cô nắm cán côn, siết lại, các khớp ngón tay trắng bệch.

Nguyên không cần ai nói. Nó hiểu đây là chỗ nào.

Chú Đồng phất tay.

– Đi. – Ông nói. – Đi nhanh. Tối nay phải ngủ trong làng.

Không ai cãi.


Chiều, Khe Sến hiện ra giữa hai bờ khe.

Đấy là một làng nhỏ, nằm ở chỗ con khe nước đổ từ rừng xuống, chia đôi thung lũng. Bên này khe là những ngôi nhà đất mái rạ của người dưới xuôi, quây quanh một bãi chợ lát đá. Bên kia khe, trên sườn đồi thoai thoải, là những ngôi nhà sàn của người Ngàn, cột gỗ cao, mái lá dốc, khói bếp bốc lên qua mái. Một cây cầu tre bắc qua khe, nối hai bên.

Chợ vắng hoe. Lều quán đóng cửa, có cái mái lá đã sụp một góc. Mấy con chó gầy trơ xương nằm dưới gốc cây, ngẩng đầu nhìn đoàn xe mà không buồn sủa.

– Hải Thuận! Hải Thuận lên rồi!

Một người đàn ông béo lùn từ trong làng chạy ra, vừa chạy vừa vẫy, áo xộc xệch, mồ hôi đầm đìa dù trời rét. Ông Hưng. Nguyên nhận ra giọng ông trước khi nhìn rõ mặt: cái giọng van nài, ướt như người vừa chạy, đêm ấy nghe qua vách kho.

Ông Hưng chạy đến xe đầu, ôm chầm lấy cái bao muối như ôm con, rồi quay sang nắm tay chú Đồng, lắc mãi.

– Anh Đồng, anh Đồng! Tôi tưởng… tôi tưởng không ai lên nữa rồi. – Ông nói, nước mắt chảy ra hoà vào mồ hôi. – Trời ơi, muối. Muối thật đây rồi.

Người làng kéo ra. Lúc đầu vài người, đứng xa nhìn. Rồi nhiều hơn. Rồi cả làng.

Nguyên chưa bao giờ thấy người ta nhìn những bao muối như thế. Không phải cái nhìn của người mua hàng. Là cái nhìn của người đói nhìn nồi cơm, đếm từng hạt.

Ông Hưng mở một bao. Người ta chen nhau, chìa tay, chìa bát, chìa cả vạt áo. Một đứa trẻ bé tí lách qua chân người lớn, chộp được một nhúm muối, đưa ngay lên miệng liếm, liếm đến mức lưỡi đỏ lên, rồi vẫn liếm tiếp.

Nó nhìn quanh. Ai cũng gầy, một kiểu gầy khô, da tái như giấy dầu, môi nứt nẻ. Và ai cũng khát. Cứ một lúc, lại có người bỏ ra giếng làng ở góc chợ, kéo gầu, uống ừng ực, rồi quay lại chen tiếp.

Giếng làng đắp bằng đá ong, thành giếng xanh rêu, gầu bằng mo cau. Dòng người ra vào không ngớt.

Nó nhìn cái giếng, nhớ đến giọng nói chậm rãi đêm qua, từng chữ một như từng hòn đá đặt qua suối.


Ở bãi đất cuối làng, người ta đang chôn một người.

Nguyên đi ngang qua khi theo ông Hưng ra xem kho chứa muối. Một đám đông nhỏ đứng quanh cái huyệt đào vội, nông, đất đỏ quánh. Bốn người đàn ông khiêng một cái xác quấn chiếu, đi nhanh, mặt quay đi chỗ khác, như khiêng một thứ gì đó họ không muốn chạm vào. Không có kèn trống. Không có khăn tang. Không có ai khóc.

Khi họ hạ xác xuống huyệt, một góc chiếu tuột ra.

Nguyên thấy một cánh tay.

Khô như cành củi phơi qua mùa nắng. Da bọc sát xương, sạm, nứt nẻ, những ngón tay co quắp như rễ cây khô. Và dưới làn da ấy, chạy từ cổ tay ngược lên khuỷu, là những đường vằn xanh tím, đan vào nhau, phân nhánh, như rễ cây ăn sâu dưới đất.

Như thể có một cái cây đã mọc trong người ấy.

Nguyên đứng sững. Bụng nó cuộn lên. Nó nhìn đi chỗ khác, nhìn lên trời, nhìn ngọn cây, nhưng hình ảnh cánh tay ấy đã in vào mắt, không xoá được.

Một người đàn ông vội vàng kéo góc chiếu che lại. Đất được xúc xuống, nhanh, vội, như sợ cái xác ngồi dậy.

– Ma rừng. – Một bà già đứng cạnh Nguyên lầm rầm, tay lần chuỗi hạt. – Ma rừng hút máu. Năm nay là người thứ bảy rồi.

– Không phải ma.

Giọng nói vang lên từ phía bờ khe. Nó quay lại.

Ở đó, cách đám đông một khoảng, có mấy người Ngàn đứng. Đàn ông mặc áo chàm ngắn, khoác tấm chăn dệt sọc đỏ đen; đàn bà quấn váy, đeo gùi. Người vừa nói là một bà cụ tóc bạc trắng, búi cao, cổ đeo mấy vòng hạt cườm. Bà nói tiếng dưới xuôi, chậm, rõ:

– Không phải ma. Là người trồng cây máu.

Một người đàn ông bên đám đông quay phắt lại. Người ấy thấp đậm, mặc áo the đã sờn, đội khăn xếp, dáng của người có chức có quyền. Lý trưởng chợ.

– Lại các người! – Ông ta quát. – Bọn mọi các người rước ma về đây thì có! Từ hồi các người xuống chợ đông, làng tôi mới sinh ra chuyện! Về bên kia khe đi!

Mấy người dưới xuôi lầm bầm đồng tình. Có người nhặt hòn đất ném về phía bờ khe. Hòn đất rơi xuống nước, tõm một tiếng.

Bà cụ người Ngàn không lùi. Bà chỉ nhìn lý trưởng một lúc, cái nhìn buồn bã như người nhìn đứa con không chịu nghe lời, rồi quay đi. Đám người Ngàn theo bà lên cầu tre, về bên kia khe.

Đi cuối cùng là một người đàn ông gầy, chân trần, sau lưng đeo gùi tre. Đến giữa cầu, ông ta ngoái lại.

Ánh mắt ông ta chạm vào mắt nó. Một thoáng. Rồi ông ta quay đi.

Anh Gùi.


Nguyên tìm chú Đồng ở chỗ bốn xe hàng đỗ cạnh kho.

– Chú. – Nó nói nhỏ. – Cái người đêm qua, anh Gùi, chú có thấy không? Ở bờ khe.

– Thấy.

– Người ta bảo không được uống nước giếng.

Chú Đồng nhìn nó. Rồi nhìn ra cái giếng đá ong ở góc chợ, nơi người làng vẫn đang xếp hàng kéo gầu.

– Ừ. – Ông nói. Rồi ông quay sang cả đoàn, giọng không to nhưng ai cũng nghe thấy. – Từ giờ đến lúc về, không ai uống nước giếng làng này. Không ai uống nước khe. Chỉ uống nước trong ống tre mang theo, hết thì hứng nước mưa, đun sôi. Ai uống, tôi đuổi về.

Mấy người phu nhìn nhau. Anh Mừng liếm đôi môi khô, nhìn cái giếng như nhìn một nồi xôi trên bàn thờ.

Lý trưởng chợ đứng gần đó, nghe được. Ông ta hừ mũi.

– Ái chà. Dân xuôi lên đây mà khinh giếng làng tôi. – Ông ta nói to, cố ý cho cả chợ nghe. – Giếng này tổ tiên đào, trăm năm nay uống không chết ai.

Chú Đồng không đáp. Ông chỉ cúi đầu chào lý trưởng một cái, lễ phép mà lạnh, rồi đi kiểm tra dây buộc xe.

Ông Hưng đi một vòng, phát cho mỗi người trong đoàn một gói muối nhỏ bọc lá chuối, bằng nắm tay. Lấy may, ông bảo, người lên Khe Sến mùa này phải có muối trong người. Nguyên cầm gói muối, nặng hơn nó tưởng.

Nó quay ra thì thấy một đứa bé.

Con bé ngồi bên gốc cây gạo trước quán nước đầu chợ, hai chân co lên, cằm tì trên đầu gối. Tám tuổi, có khi chưa đến. Gầy rộc, tóc khét nắng, búi tó trên đỉnh đầu bằng một sợi lạt. Con bé đang mút ngón tay cái, mút chùn chụt, mắt nhìn vào cái giếng.

Bên cạnh nó là một cái gáo dừa, khô cong.

– Em khát à? – Nguyên hỏi.

Con bé ngẩng lên, gật đầu. Rồi lại mút ngón tay.

– Bà bảo không được uống nữa. Bà bảo uống mãi mà vẫn khát là ma vào bụng. – Con bé nói, giọng khàn khàn. – Nhưng em khát lắm, anh ạ.

– Em tên gì?

– Sim.

Nguyên ngồi xuống cạnh con bé. Nó nhìn thấy cổ tay gầy như que củi của bé Sim, và ở mặt trong cổ tay, chỗ da mỏng nhất, có một đường vằn. Mờ. Xanh nhạt. Mỏng như một sợi chỉ. Nếu không để ý, ai cũng tưởng là gân máu.

Nhưng Nguyên vừa nhìn thấy cánh tay ở bãi đất cuối làng.

Nó ngồi im một lúc. Gió thổi qua tán cây gạo, rắc xuống mấy chiếc lá khô.

Bé Sim mút ngón tay, nhìn cái giếng, đôi mắt to quá khổ trên khuôn mặt gầy. Nguyên nhìn con bé, và trong một thoáng, nó không thấy bé Sim nữa. Nó thấy Bông, ngồi trên bậc cửa nhà, nhìn ra ngõ chờ anh về.

Nó mở bàn tay. Gói muối bọc lá chuối của ông Hưng nằm đó.

Nó không biết muối có giúp được gì không. Nó chỉ biết đêm qua, người đàn ông đeo gùi nhìn bao muối bằng cái nhìn vừa mừng vừa sợ.

– Cầm lấy. – Nó nói, đặt gói muối vào tay bé Sim. – Mỗi ngày ăn một ít. Đừng cho ai biết.

Bé Sim nhìn gói muối, rồi nhìn nó, mắt mở to.

– Của anh à?

– Ừ. Anh ăn rồi.

Câu ấy bật ra trước khi nó kịp nghĩ. Anh ăn rồi. Câu nó đã nói với Bông một đêm năm tám tuổi, khi bẻ đôi củ khoai.

Bé Sim ôm gói muối vào ngực, đứng bật dậy, chạy về phía quán nước, vừa chạy vừa gọi bà ơi, bà ơi. Được mấy bước, con bé quay lại, vẫy tay với nó.

Nguyên vẫy lại. Rồi nó ngồi đó một lúc nữa, dưới gốc cây gạo, nhìn cái giếng.


Tối, cả đoàn ăn cơm ở nhà ông Hưng.

Nhà ông Hưng là căn nhà đất rộng nhất bên này khe, vừa là chỗ ở, vừa là kho hàng. Mái rạ dày, vách trát bùn trộn rơm, bếp lửa đỏ rực giữa nhà. Muối đã được cất vào kho, khoá cẩn thận. Thuốc được mở ra, chia thành từng gói nhỏ, xếp lên chạn.

Ông Hưng ăn ít, nói nhiều. Ông kể như người lâu ngày không được kể.

– Từ năm ngoái đấy, anh Đồng ạ. Từ cái chuyến của Hải Thuận năm ngoái, đường muối lên đây coi như đứt. – Ông nói, tay xoay xoay cái bát không. – Chuyến nào lên cũng gặp chuyện. Hàng mất, phu bỏ trốn giữa đường. Có chuyến lên được đến nơi, tôi mừng như bắt được vàng, cất vào kho, khoá ba lớp. Ba hôm sau, sáng ra, cửa kho vẫn khoá, mà muối thì không còn. Người ta tìm thấy bao không vứt dưới khe, muối tan hết theo nước.

Ông lắc đầu.

– Mà lạ lắm. Không mất tiền. Không mất thuốc. Không mất vải. Chỉ mất muối.

Chú Đồng ngồi im, nghe. Ông không hỏi kẻ nào làm, không hỏi vì sao chỉ mất muối. Cả bữa, ông chỉ hỏi đúng một câu.

– Năm ngoái, – ông nói, giọng đều, – sau chuyến của Hải Thuận, có ai ở đây thấy một người mang côn gỗ lim đi qua không? Người cao, gầy, bên má trái có một vết sẹo nhỏ.

Ông Hưng ngừng tay. Ông nhìn chú Đồng, rồi lắc đầu, chậm.

– Không, anh Đồng ạ. Không ai thấy.

Chú Đồng gật đầu. Ông không hỏi thêm. Ông cúi xuống ăn nốt bát cơm, ăn chậm, nhai kỹ, như nhai một thứ gì rất cứng.

Cô Cát không ăn.

Cô ngồi ở bậc cửa, quay lưng vào nhà, cây côn dựng bên cạnh, mắt nhìn ra ngoài. Ngoài kia, trời đã tối hẳn. Phía bên kia khe, những đốm lửa bếp trên nhà sàn người Ngàn lập loè như sao rơi. Còn xa hơn nữa, về phía con đường họ vừa đi, về phía khoảnh đất trống bên suối, rừng là một khối đen đặc, không có lấy một đốm sáng.

Anh Mừng bưng ra cho cô một bát cơm. Cô lắc đầu. Anh đặt bát cơm xuống bậc cửa bên cạnh cô, rồi lặng lẽ quay vào.

Nguyên ăn xong, ra đứng ở góc hiên. Nó không đứng tấn. Nó chỉ nhìn cô Cát, nhìn cái lưng thẳng tắp ấy, nhìn bát cơm nguội dần trên bậc cửa.

Nó muốn nói gì đó. Nhưng nó không biết nói gì.


Nửa đêm, Nguyên tỉnh giấc.

Nó không biết vì sao mình tỉnh. Không có tiếng động nào. Bếp lửa đã tàn, chỉ còn vài hòn than đỏ mờ. Quanh nó, người ngủ la liệt trên chiếu trải dưới nền đất: anh Mừng ngáy khò khò, phu Sửu nằm co như con tôm, chú Đồng ngủ ngồi dựa cột, cây thương trên đùi.

Nguyên nằm im, nghe.

Rồi nó nhận ra cái nó vừa không nghe thấy.

Chỗ góc nhà gần cửa, chỗ cô Cát trải chiếu nằm lúc tối, không có tiếng thở.

Nó ngồi dậy. Chiếu trống trơn. Tấm chăn gấp gọn, đặt ngay ngắn ở đầu chiếu, như người đã định đi từ trước.

Nó nhìn ra cột hiên. Chỗ cây côn lim dựa lúc tối, giờ chỉ còn cái cột.

Nó rón rén bước ra ngoài. Đêm lạnh buốt, trăng khuyết lơ lửng sau tầng mây mỏng, đủ sáng để thấy cái chuồng ngựa bên hông nhà. Mấy con trâu nằm nhai lại. Chỗ buộc Than, sợi dây thừng buông thõng xuống đất, đầu dây không có con ngựa nào.

Nguyên đứng giữa sân, tim đập thình thịch.

Rồi, từ xa, từ phía con đường rừng, từ phía khoảnh đất trống bên suối mà sáng nay chú Đồng đứng nhìn rất lâu, vọng lại một tiếng kêu.

Rồi tiếng thứ hai. Tiếng thứ ba.

Đàn khỉ lại bắt đầu kêu.